Thứ Tư, 20 tháng 12, 2017

GỐC RẠ RUỘNG ĐÔNG

GỐC RẠ RUỘNG ĐÔNG

Bỗng thương gốc rạ ruộng đông
Là mùa lúa, mà lại không là gì!
Loằng quằng quẩn rối bước đi
Mai thành bùn đất đen sì. Hết mong!

Ừ xong... xong cả đục trong
Một đời lấm láp trọn vòng.
là thôi.

Là thôi / gốc rạ bời bời
 Chéo xiên đau nhói gót ai đi về.

HatCat 17/12/2016
Thôn Vân
;

Thứ Ba, 19 tháng 12, 2017

BỜI BỜI

BỜI BỜI
(16 tháng Một QT-2013
-  xây chốn Vĩnh hằng cho Chồng tôi)

Liệu mai nắng có rộm vàng?
Mà nay gừng muối khô rang cả rồi!

Buông tay
về chốn thảnh thơi
Thấp cao
 ai
để riêng ai gập ghềnh.
Liễu già gió táp xơ cành
Mưa phùn  vụn nát
lạnh tanh góc giời.

...Tôi một mình tựa vai tôi
Vén chiều nghiêng sập lối ngoài
phân vân.
Bếp than đã tắt bán phần
Đông tàn nay
liệu
mai Xuân có về?

Bằng lăng tím lịm mép Hè
Trăng Thu vàng ệch rơi rìa sân sau.

Mấp mô khấp khểnh nhịp cầu
Con thuyền ải
giữa
dòng sâu luỵ phiền


Hat Cat 2014
;

Thứ Hai, 18 tháng 12, 2017

ĐỌC THƠ HẠT CÁT, HÁT BÙI CỬU TRƯỜNG, GẶP DIỆU SINH


THỨ NĂM, 11 THÁNG 8, 2016

Sách thơ VƯỜN NĂM NHÀ,1 / Phần thơ Hạt Cát

Phần văn bản HẠT CÁT 



Tủ sách THƠ BẠN THƠ 
Lý Phương Liên-Nguyễn Nguyên Bảy
(Chủ biên)

VƯỜN NĂM NHÀ

Thơ


nguyễn nguyên bảy
HẠT CÁT
hoàng xuân họa
LÝ PHƯƠNG LIÊN
mai an nguyễn anh tuấn
 

NXB HỘI NHÀ VĂN







Trước mặt tôi, lúc này là tập thơ nhiều trăm trang Hạt Cát, của nữ thơ Diệu Sinh/ Bùi Cửu Trường, với lời tựa của Nguyễn Thế Kiên, lời Đọc Thơ Hạt Cát của Nhã My-Sương Lam và lời thu hoạch của Lý Phương Liên. Xin chép trích lại, cả ba khúc giao duyên nhắc trên, trước một hoan hỷ đò đưa.

Nguyễn Thế Kiên: “ Mấy mươi năm cống hiến cho nghề thuốc, nghiệp binh, ngoại lục tuần, chị mới chạm cái mênh mông của cõi ảo internet, những tưởng chỉ để khuây khỏa tuổi hoàng hôn. Nào ngờ, cứ sau mỗi bình minh lại thấy một vài bài thơ xuất hiện trên trang blog Hạt Cát của chị. Chỉ sau 24 tháng, chị đã viết hơn một ngàn bài thơ trên blog của mình. Đọc những bài thơ ấy, khiến tôi ngạc nhiên bởi sự lấp lánh của ngôn ngữ, sự độc đáo của ý tưởng… Đọc Hạt Cát tôi cứ băn khoăn một câu hỏi: Phải chăng, để có hai bốn tháng viết được hơn ngàn bài thơ đầy ám ảnh kia, là năng lượng từ một cõi siêu nhiên nào đó đã tích tụ trong chị suốt mấy chục năm qua? Hay cái duyên thơ từ trời xanh đã nhập vào đời chị sau tuổi lục tuần? Thơ của Diệu Sinh Bùi Cửu Trường – Sợi chỉ căng ngang giữa đời và đạo.”(Sách thơ Hạt Cát, đã dẫn)

Nhã My- Sương Lam: Tôi có một nguyên tắc là không (dám) bình thơ của tác giả đương thời. Điều này cũng dễ hiều vì thứ nhứt sợ cảm nhận của mình cũng không đúng sẽ làm người đó buồn, khó chịu (vì không ai hiều thơ mình bằng chính tác giả). Điều thứ hai là muốn phê bình nhận xét một tác giả thì phải qua một quá trình theo giõi sáng tác, tức những đứa con tinh thần của tác giả đó. Thường thì việc này được kết thúc khi sự nghiệp văn chương của tác giả đó đã hoàn tất. Nhưng hôm nay tôi mạo muội giới thiệu thơ của một người bạn ( đúng ra là một người chị vì so với tuổi đời chị lớn hơn nhiều), bởi vì tôi bị người đó – Hạt Cát “thôi miên”  đã khiến bị cuốn hút  vào những dòng thơ tuyệt vời. vào những dòng chữ  đầy “ma thuật” với sức hút vô cùng quyến rũ !..”(Sách đã dẫn)

Lý Phương Liên:
 “ Mình làm thơ đã dễ, Cát làm thơ còn dễ hơn, hai đứa đều như thấy cái gì, thích cái gì, viết ra cái đó, viết không kịp nghĩ và đôi khi thực chẳng  biết viết những dòng đó ý nghĩa gì, mục đích gì. Cái đó các ông thầy thơ gọi là ngẫu hứng? Còn mình thì cho đó là thú chơi thơ, chẳng biết Cát có nghĩ thế? Chỉ có điều mình chơi thơ trong không gian hẹp hơn, Cát chơi thơ trong không gian rộng hơn. Không gian của mình chỉ đơn thuần  khu vực cuộc sống gia đình hàng ngày. Không gian của Cát mênh mang hơn gấp nhiểu phần, nào đời, nào đạo, nào tình, nào tu thân, nào ta - bà, nào nam mô.. nào..đủ thứ.. mà Cát gặp, Cát  thấy trong vườn thơ. Thế nên chỉ trong hai năm Cát đã hái được cả ngàn hoa cỏ thơ, còn mình, cũng trong hai năm (lúc 18 tuổi) chỉ viết được vài chục bông thơ. Bái phục sức viết của Cát. Càng bái phục hơn khi Cát năm nay gần bảy chục ( Cát và mình đồng tuế, 1948), mình viết dễ lúc mười tám, đôi mươi, bây giờ tắc tị, còn Cát thì bắt đầu, ai khỏe hơn ai cứ thế suy ra mà  rõ.
Này Cát, mình cho rằng, vấn đề không chỉ ở số lượng bài viết, mà vấn đề là những bài viết đó “thơ” mức nào. Thơ Cát ( tất nhiên mình chưa thể đọc hết, nhưng hứa là sẽ đọc hết, đọc nhiều lần sau này) đều ở mức từ đọc được đến hay, nhưng hơi mệt. Thế là mừng quá rồi. Ai chưa khen hay chưa thích mình không biết, nhưng những câu thơ như dẫn dưới đây, mình chịu, mình thích,
(Chủ ý không dẫn xuất xứ..) dẫn chép 5 câu:
/ Em về/Ứ nhé/ Em về/ Cơn giông đã hẹn bên kia mố cầu../
/ Cõi tạm này chỉ ngắn một gang/ Hai chúng mình chắp vào không đầy nửa/ Đống củi cuối, cành sau cùng cháy dở/ Thu sắp qua/ Đông buốt gió heo may../
/Tôi về nhặt lại ngày xưa/ Chuồn chuồn cõng hạt nắng trưa ngoài vườn../
/ Bao ngày…/ Mẹ đã xa rồi/ Mẹ đi trống cả đất trời quanh con../

/ Trời mùa đông vẫn như ngàn năm cũ/ Rét thủy tinh dòn tí tách sớm Hố Tây../
Thơ Cát hồn nhiên kiểu này, đèm đẹp kiều nay, gợi cảnh, gợi việc, gợi tình kiểu này..nhiều lắm. Đó là một thành công của Hạt Cát - người chơi thơ. Và nếu chỉ trong ý muốn này của Cát (Cát thường lập ngôn với bạn thơ như thế !)  thì cuộc chơi của Cát đã là quá mãn, xin phục tài. Tuy nhiên, nói tuy nhiên là lẽ tiếc sự quá “lãng phí tài thơ “ của Cát. Cát đang ngẫu hứng thơ từ một cái tựa đề, sau đó dùng điệu vần ru đẩy ra thơ, ngắn, dài, cổ, tân tùy muốn. Sao Cát không nén lại chút, cho cái ngẫu hứng “chín” mà thành sự, thành truyện, thành “tứ” để nâng cao tầm thơ, để chẳng những người tung thơ thỏa sướng hơn, mà bạn thơ thưởng lãm cũng được đẫm lòng yêu nhớ thơ Cát hơn?”

Nguyễn Nguyên Bảy, đò đưa thơ Hạt Cát.
1/Hạt Cát, thông tin từ Lý Phương Liên, sinh năm 1948.
Người sinh năm 1948, tuổi Mậu Tí, chữ Mậu hàng can, thuộc dương thổ, chữ Tí hàng chi, thuộc dương thủy, can thổ khắc chi thủy, khắc nhập thổ thủy, toán số bậc 4, cuộc đời gói gọn trong bốn chữ: Vất/Vả/Tranh/Đấu/Thành/Tựu. 
Người sinh năm 1948, tuổi Mậu Tí, tên hành Tích Lịch Hỏa. Tích lịch hỏa là lửa sấm sét, nghĩa nôm na: Sấm có tiếng nhưng không có lực/ Ai cũng sợ nhưng không giết ai bao giờ. 
Từ ý nghĩa Can Chi đến ý nghĩa hành, chọn nghệ danh Hạt Cát thật đắt trong cả nghĩa thực và nghĩa ảo, ắt tất được viên mãn như nguyện trong ý nghĩa Hạt Cát. Thành thực chúc mừng. 
2/Tôi lục đọc trong bốn tập thơ, dầy ngang nhau, đều nhiều trăm trang, ba tập tự in, một tập do NXB Văn Học ấn hành và lục đọc trang blog Hạt Cát mà gặp người thật ngoài đời, tên Bùi Cửu Trường, một người con hiếu thảo, một người lính quân y gần như nghiệp cả đời, một người bạn và một nhà thơ. 
Tôi đọc thơ Hạt Cát bằng thuật dịch học, và chỉ có pháp đọc này mới trợ giúp tôi đọc nhanh lướt cả ngàn bài thơ trong kiệm ngặt thời gian và sự thích thú giới hạn của mình. Thuật dịch đọc này có ba pháp: Lý/Tượng/Số. Nôm na là: Bài thơ này nói cái Lý gì, câu chuyện gì ? Lý thuận hay nghịch? Lý mới hay cũ?  Cái Lý thường xuất hiện ngay từ cái tựa bài, hoặc xuất hiện từ một hoặc hai câu mở đầu.. Lý là điều quan trọng nhất của bài thơ. Phần lớn những bài thơ đọc hết khổ thơ đầu hoặc 4,5 câu thơ đầu mà chưa thấy hiện lên cái lý gì, tức là không nên tiếp tục đọc nữa, vì hình như nó không phải là thơ. Trường hợp nên tiếp tục đọc, là trường hợp trong bốn, năm câu này phảng phất xuất hiện Tượng, tức là một biểu tượng, một lập ngôn, hoặc lấp lóa một bất ngờ kỳ lạ. Và đôi khi, không thấy xuất hiện Tượng, mà lại xuất hiện Số, tức là xuất hiện các hình ảnh phối nhau bằng âm thanh, mầu sắc, tâm trạng, các số này thuận nghịch, đối lưu nhau, tương phản nhau, giãi bầy cảm xúc, tâm trạng hoặc gợi sự tò mò thích thú bất ngờ. Dẫn một câu thơ ví dụ về ba pháp Lý/ Tượng/ Số cho lời nôm na, dễ hiểu hơnSắc đỏ của máu và mầu vàng của da/ Mỗi chúng ta là một ngọn cờ..(NNB). Lý là lòng yêu nước. Tượng là ngọn cờ. Số là sự cân bằng giữa máu và da thịt, cân bằng thành con người. 
Thật may mắn là Blog Hạt Cát đã nén cả ngàn bài thơ của mình theo phân loại: Thơ ba câu/ Thơ bốn câu/ Thơ năm câu/ Thơ sáu câu/ Thơ bảy câu/ thơ lục bát/ Thơ song thất lục bát/ thơ Đường luật/ Thơ tự do/ Thơ văn xuôi..Mỗi nhãn dung lượng vài chục bài đến cả trăm bài. Sự sắp xếp này chứng tỏ tác giả là người rất tự tin và chấp nhận những thách đố, phẩm bình, lượng gía thơ của bạn đọc. Đó cũng chính là đức chân thành của người chơi thơ. Đồng thời, sự sắp xếp này đã thật lợi lạc cho người đọc thơ, vì được thỏa mãn đối chứng, đón nhận và tôn vinh khi đọc gặp câu thơ thích, bài thơ thích và lẳng lặng lướt qua những câu thơ vu vơ, những bài thơ nhạt. 
Xin hãy hoan nghênh tinh thần yêu thơ của tôi, vì tôi đã đọc hết theo cách Lý/Tượng/Số khối lượng thơ “khủng “ của Hát Cát. 
Tôi xin gửi những lời tôi xin bầu bạn hoan nghênh tôi, đến Bùi Cửu Trường, danh khai sinh của nghệ danh thơ Hạt Cát, thay lời khích lệ tôn vinh và biết ơn vì đã cho tôi đọc gặp cuộc đời thường tình của Bùi nữ sĩ. Không hẳn bài thơ nào của Bùi Cửu Trường cũng đẹp đủ “tam thức”  Lý/Tượng/Số, nhưng đã đọc gặp nhiều Lý thuận, Lý sáng, nhiều Tượng đẹp, Tượng hay và nhiều Số lung linh huyền ảo..Đọc thơ Hạt Cát, cảm xúc trong tôi như gặp một người thơ múa hát, hát thơ, tên là Bùi Cửu Trường…Và cũng đồng cảm xúc với Lý Phương Liên: "Tuy nhiên, nói tuy nhiên là lẽ tiếc sự quá “lãng phí tài thơ “ của Cát. Cát đang ngẫu hứng thơ từ một cái tựa đề, sau đó dùng điệu vần ru đẩy ra thơ, ngắn, dài, cổ, tân tùy muốn. Sao Cát không nén lại chút, cho cái ngẫu hứng “chín” mà thành sự, thành truyện, thành “tứ” để nâng cao tầm thơ, để chẳng những người tung thơ thỏa sướng hơn, mà bạn thơ thưởng lãm cũng được đẫm lòng yêu nhớ thơ Cát hơn?” 
3/ Đọc tìm trong ngàn bài thơ Hạt Cát, tôi đã đọc thích nhiều bài, đơn cử: /Đêm, chuyện của một người/ Chỉ còn/ Ngôi sao lẻ loi/ Thử một lần say/ Buồn ơi/ Ma trận/ Nồng oi tháng Sáu/ Âm thầm cuối năm/ Có ai về cùng tôi ngày xa cũ../ 
Không thể dẫn hết những bài đọc thích thơ Hạt Cát. Xin cùng tôi đọc trọn một bài, nhấn mạnh: một bài, một trong số hơn ngàn bài thơ Hạt Cát đã viết tặng đời mới hổi hai năm nay. Bài Đêm, chuyện của một người..

ĐÊM, CHUYỆN CỦA MỘT NGƯỜI


Mảng đêm đen ngọn đèn mờ tỏ/ Cửa sổ lùa cơn gió vu vơ/ Trăng suông sáng sáng vườn chùa/ Nâu sồng lất phất, song thưa đổ dài./
/Cởi mũ ni, vành tai lành lạnh/ Mồ hôi nồng dính dính ngón tayTường khuya hắt bóng lắt lay/ Cửa Thiền vóc hạc hao gầy bao đông?/
/Soi ao chùa má hồng nhàn nhạtDõi sương chùa hạt hạt tong tong/ Rấp lòng về với cửa KhôngNào hay bập bập bùng bùng lửa đêm!?/
/Dưa muối chốn gác Thiền đắp đổiNguyện kệ kinh sớm tối Phật đài.Ngân nga chuông thỉnh hồn ai…/ Mõ chiều lốc cốc lọt ngoài tam quan./
/Ngấn mắt ướt lòng tan dạ nát/ Hoen má đào muối xát tâm can/ Thơ ngây chút phận hồng nhan/ Mà ngang trái, mà đa đoan tội tình!/
/Buông gió mây nương mình bóng PhậtRũ bụi trần chật vật bấy nay/ Tóc xanh quấn mấy vòng dây/ Vẫn như níu chặt tháng ngày gai chông!/
/Ai nỡ lòng ăn không nói nói có?/ Ai rắp tâm mượn gió bẻ măng?/ Nén lòng răng cắn chặt răng/ Cởi duyên oan nghiệt sâu nông bấy chầy!?/....
Chiều hoàng hôn trời Tây ác ngảTrăng khuya loang mặt lá nhạt tênhCõi lòng ngỡ đã lạnh tanh/ Vẫn khi quặn thắt tim mình đớn đau…/
/Đêm hoang vắng nhàu nhàu cây lá / Ngày nóng nung ủ rũ búp non/ Bao lần nước mắt chứa chan/ Bao lần nhòa bước tam quan ngập ngừng?!/..../
/Ngào ngạt sen thơm hồng dẫn lối/ Nước Cam Lồ mát rượi liễu xanh.../ Ngộ tâm thành, Sáng tâm minh / Phật Thiêng Liêng giữa lòng mình đâu xa!
/Đường Thiền ngàn muôn hoa đua nởCõi Phật Đài lộng gió thênh thênh.Hỡi ai phận bạc nổi nênhNương làn hương khói bồng bềnh bay xa …/
 
Bạn đọc ơi, khúc Đò đưa của tôi đến đây là hết. Ồ, không, khoan, nghe như ai đang gọi, đang thơ, đang hát: /Hỡi ai phận bạc nổi nênh/ Nương làm sương khói bồng bềnh bay xa../ Hình như thơ Hạt Cát, hình như tiếng hát Bùi Cửu Trường, cùng là một người đấy thôi, có điều bây giờ người thơ ấy hát bằng giọng Diệu Sinh trên con đường người ấy đang đi về (hay đi tới) nơi người ấy muốn. Nơi mà như Nguyễn Thế Kiên nói: “Thơ của Diệu Sinh Bùi Cửu Trường – Sợi chỉ căng ngang giữa đời và đạo.”

;

Thứ Sáu, 15 tháng 12, 2017

BÙI CỬU TRƯỜNG/ HẠT CÁT DIỆU SINH – NGƯỜI ĐÀN BÀ LÀM THƠ VÀ CHƠI THƠ “LẠ” NGUYỄN VĂN HÒA ​

BÙI CỬU TRƯỜNG/ HẠT CÁT DIỆU SINH
 – NGƯỜI ĐÀN BÀ LÀM THƠ và CHƠI THƠ “LẠ”
Trong hình ảnh có thể có: 1 người, đang cười, đang ngồi, bàn, văn phòng và trong nhà


Nguyễn Văn Hoà 

Bùi Cửu Trường/ Hạt Cát Diệu Si
nh sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống văn chương. Dòng họ chị với nhiều đời, nhiều tên tuổi nổi tiếng trong nền văn học nước nhà. Cha chị là nhà thơ, nhà báo, nhà văn hóa Bùi Hạnh Cẩn. Chính thừa hưởng từ cái gen di truyền của dòng họ và từ chính người cha của mình nên tố chất văn chương trong con người Bùi Cửu Trường thể hiện ngay từ bé. Tưởng rằng chị sẽ đi theo con đường thơ phú nhưng khi tốt nghiệp phổ thông, Bùi Cửu Trường lại chọn ngành y và theo nghiệp binh cho đến khi nghỉ hưu. 
Điều lạ và đặc biệt ở Bùi Cửu Trường là yêu thơ và đến với thơ từ nhỏ nhưng về già (nghỉ hưu) mới lại làm thơ. Làm thơ như chơi và xem đó là một thú chơi tao nhã của đời mình sau bao nhiêu năm tháng thăng trầm, cống hiến trí lực cho đất nước. Làm thơ, chơi thơ trên blog và facebook, rồi bạn bè tập hợp in 2 tập: Thơ Hạt Cát 1  Thơ Hạt Cát 2.
Trong khoảng thời gian từ khi nghỉ hưu đến nay chị đã làm đến mấy ngàn bài thơ. Ngày nào chị cũng viết, viết bất cứ lúc nào, bất kỳ trong hoàn cảnh nào, cứ thích là viếtChị cho hay: Hình như có một cõi nào đó mách bảo và rỉ vào tai, tôi chỉ có việc chép chép ghi ghi. Do vậy khi đọc lại, có những bài tôi không nghĩ là mình viết. Nhiều câu chữ lạ được ra đời trong những lúc “lên đồng” như thế”.
Vì vậy, khi đọc thơ Hạt Cát, nhà thơ Nguyễn Thế Kiên nhận định rằng: Mấy mươi năm cống hiến cho nghề thuốc, nghiệp binh, ngoại lục tuần, chị mới chạm cái mênh mông của cõi ảo internet, những tưởng chỉ để khuây khỏa tuổi hoàng hôn. Nào ngờ, cứ sau mỗi bình minh lại thấy một vài bài thơ xuất hiện trên trang blog Hạt Cát của chị. Chỉ sau 24 tháng, chị đã viết hơn một ngàn bài thơ trên blog của mình. Đọc những bài thơ ấy, khiến tôi ngạc nhiên bởi sự lấp lánh của ngôn ngữ, sự độc đáo của ý tưởng… Đọc Hạt Cát tôi cứ băn khoăn một câu hỏi: Phải chăng, để có hai bốn tháng viết được hơn ngàn bài thơ đầy ám ảnh kia, là năng lượng từ một cõi siêu nhiên nào đó đã tích tụ trong chị suốt mấy chục năm qua? Hay cái duyên thơ từ trời xanh đã nhập vào đời chị sau tuổi lục tuần? Thơ của Diệu Sinh Bùi Cửu Trường – Sợi chỉ căng ngang giữa đời và đạo.”

Trong một lần gặp chị gần đây tại Hà Nội, tôi mới hiểu rõ hơn con người đời thường và con người thơ của Bùi Cửu Trường. Chị yêu thơ, chơi thơ, làm thơ mê đắm. Điều đáng trân trọng là chị xem đó chỉ là cuộc chơi, cuộc chơi vô tư, không toan tính, không mưu cầu danh lợi. Chị ý thức được sâu sắc số phận mình, con người mình, thời mình đã và đang sống nên có cách “ứng phó” riêngTôi khư khư giữ bóng tôi/ Mà chông chênh vẫn suốt đời chông chênh.
Đọc thơ chị, đúng như chị nói: “Tôi không cố ý làm thơ mà thơ nó tự tuôn ra trong đầu như có một sự lập trình sẵn, tôi chỉ việc chép chép ghi ghi và tôi gọi đó là Nhật ký thơ”. Nhật ký thơ của chị chính là nhật ký của những trang đời, mà ở đó có đủ các cung bậc, sắc thái: tốt - xấu, trắng - đen, vui - buồn, được - mất, hạnh phúc - khổ đau… 
Hạt Cát là người phụ nữ đã đi qua những tháng năm đau thương của dân tộc, chứng kiến những thăng trầm của đất nước. Cuộc đời chị được tôi luyện trong môi trường quân đội, có những tháng năm học tập ở nước ngoài và công tác trong ngành y đã tạo nên cốt cách của một con người khuôn phép, mẫu mực, đức độ, nhân ái và bao dung.
Viết về đề tài gì, chủ đề gì thơ Hạt Cát cũng đằm thắm, hồn hậu. Thơ chị thể hiện rõ tính cách, con người, cuộc đời của chị. Đó là tiếng lòng đầy ưu tư, trăn trở, nỗi niềm đau đáu, nằng nặng nhớ thương.
Với khát vọng sống thực với chính mình, Hạt Cát Diệu Sinh luôn ý thức và tự tìm cho mình thế giới riêng. Thế giới ấy, chính là cuộc hành trình để chị tìm về với chính mình và để hiểu mình, hiểu người hơn.
Khôn ngoan em cũng thể đàn bà
Đàn bà chân tơ, đàn bà kẻ tóc
Đàn bà giòn cười, đàn bà tươi khóc
Một vùng đào liễu non xanh…
…………………………….
Đàn bà em 
Nồng nàn khao khát
Gió xoắn mây
Nghẹt.
Đàn bà em
(Đàn bà em)
Hạt Cát Diệu Sinh tự thức được rằng, dù gì thì người đàn bà vẫn chịu nhiều thua thiệt, người đàn bà phải mang trên mình nhiều thiên chức và nỗi đau. Có những nỗi đau không gọi được thành tên nhưng luôn ám ảnh và giày vò họ suốt cả cuộc đời. 
Không áo tang đen/ Không khăn xô trắng/ Không hương hoa/ Không nước mắt/ Chỉ có một bóng người/ - Một bóng đàn bà đơn côi/ Âm thầm/ đêm thanh vắng/ Lẳng lặng đưa ma tình yêu chính mình…
Nửa mùa đông hắt hiu/ Nửa mùa đông cô quạnh/ Ngọn lửa nhen hồng màn đêm xám bạc/ Chị loay hoay che bốn phía heo may/ Ủ tình yêu nồng thắm trái tim gầy…
Đêm ngày/ Tình yêu héo khô rớt kẻ tay/ Lịm tắt uột èo mặt đất!/ Nén tiếng thở dài chôn tình yêu đã chết/ bóng đổ đêm xiêu…
(Chuyện của chị)
Tình yêu của người đàn bà có tiếng nấc nghẹn, cô độc, buồn tủi, hoang hoải, những giọt nước mắt vọng lại từ nỗi đau còn đeo bám và cả những tiếc nuối xa xôi  tưởng đã ngủ yên.
Kỷ vật là chiếc áo bạc màu trong rương mà người người chị trong bài thơ Chiếc áo bạc màu cũng sẽ lấy không biết bao nhiêu nước mắt của người đọc. Mối tình đẹp của đôi trai gái thuở 17, 18 tuổi. Nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh người thanh niên ấy phải ra trận với lời hứa “Em ơi! Đợi anh về…”. Nhưng đâu phải mọi thứ diễn ra như mình nghĩ, để rồi người con gái ấy (chị) phải ôm trọn một nỗi sầu đau: Bốn mươi năm!/ Người đi./ Không về./ Vâng./ Người ấy không về!/ Con phố ồn ào giờ lặng ngắt./ Đến rồi đi/ những người lạ mặt/ không có trong ký ức/ không vương mùi hoa sữa mùa thu.
Vâng, người con gái ấy (chị) vẫn chung thủy đợi anh: Mùa thu đến rồi đi/ Mùa xuân cũng đến rồi đi/ Mùa hạ, mùa đông cũng thế./ Chị âm thầm/ dõi về hướng cũ/ nơi tiếng tàu điện khuya rung nỗi nhớ/ bốn mươi năm!
Đọc bài thơ Chuyện bây giờ mới kể, Hạt Cát viết tặng một người bạn và người con sinh vào mùa đông năm ấy mới thấy được nỗi đau thấu cả ruột gan của người đàn  với những mất mát và tổn thương không gì bù đắp được. Mòn mỏi chờ chồng, trông ngóng chồng sau ngày đất nước giải phóng nhưng kết cục họ là người đàn bà bất hạnh cùng với những đứa con côi.

Bên cạnh những nỗi đau riêng, nỗi đau đời tư là những nỗi đau, sự nhức nhối đối với nhiều người, nhiều gia đình, thậm chí là cả một cộng đồng dân tộc. Nhà thơ canh cánh nỗi lo:
Điện xăng… lại dọa sẽ tăng/ Giá cơm gạo cũng lần lần đội lên? 
………………………………
Dòng đời càng chảy càng to/ Trăm nguồn vạn nhánh biết là về đâu?
Liệu ai sẽ bắc nhịp cầu/ Liệu ai rút sợi tìm đầu mai nay?/ Liệu khi cờ đã đến tay/ Có lo vơ vét cho đầy túi tham?
Bạc vàng mua tán dâng tàn/ Đồng tiền cứa nát tâm can con người!/ Bòng bong càng quấn càng dai/ Bốn bề lá dứa cành gai bít bùng!!!
               (Bòng bong)
Nỗi khát khao tìm kiếm chính mình, lý giải cho cái chung của tất cả mọi người và cho những hoài nghi của chính mình đã thôi thúc chị đi tìm câu trả lời. Nhưng rồi rốt cuộc vẫn còn rất nhiều những câu hỏi không thể giải đáp. Chính vì thế Hạt Cát Diệu Sinh có lúc rơi vào trạng thái hoang mang, hoài nghi và bất lực.
Ngổn ngang. Lòng rối tơ vò
Dòng sông chín khúc ai dò nông sâu?
Nhấp nhô khấp khểnh nhịp cầu
Gập ghềnh chân bước tìm đâu lối về?
                    (Ngổn ngang)
Chẳng biết là không hay có?/ mà như là khói là mây/ Chẳng biết là hư hay thực?/ mà như là tỉnh là say./ Đâu rồi?/ Bóng chim, tăm cá? Đâu rồi?/ Một thoáng mây bay?/ Vó câu lướt ngoài cửa sổ/ Vèo trôi cả tháng lẫn ngày
Hư Vô, rồi Hư Vô cả/ Xin đừng giận gió, hờn mây.
(Chẳng biết…)
Có đôi lúc, chị thấy cuộc đời như vô nghĩa, chị nghĩ: Nhàu nát như dưa chắc khá hơn/ Chẳng buồn, chả giận cũng không hờn./ Nghểnh đầu: hun hút mây thăm thẳm/ Cúi mặt: mênh mang sóng dập dồn/ Nghe dế nỉ non đêm khắc khoải/ Lắng sương tí tách dạ bồn chồn/ Hoang vu bốn phía nghiêng mưa lạnh/ Lủi thủi một mình lệch dốc trơn (Vô nghĩa).

Những vần thơ đầy suy tư, chiêm nghiệm về con người, cuộc đời, về thế thái nhân tình là những vần thơ lắng đọng, để lại trong lòng người đọc những dư ba. Ngay giữa quê hương nhưng Hạt Cát Diệu Sinh nhận ra mình đã trở thành kẻ “lưu vong”.
Ngay giữa quê mình/ Người dân quên ngôn từ thường nhật/ Bà mẹ trẻ ru con khi rú gào, khi nghẹn nấc/ Tiếng Anh giả cầy lắc ngực ngoáy mông./ Em gái em trai như choi choi/ nhún cẳng co chân/ lộn phèo tứ chi như cua càng phơi nắng./ Đàn ông, đàn bà áo phông đen trắng/ quần te tua hình siêu nhân nhe nanh./ Khoe mỏng dầy thấp thoáng/ Quần không ống/ áo không dây/ gió lộng bay bốn bề ngực lưng láng bóng
Ánh đèn ma trơi/ Nhạc Rock xập xình/ người lắc lư/ không khí vụn tơi./ Chát chúa âm thanh/ rờn rợn.
Đồng quê cánh cò gãy vụn/ Tiên tổ nép mình dưới gạch đá sáng choang…/ Âm – dương xoay tròn/ Ngũ hành loáng nhoáng/ Tám hướng linh hồn người xưa mệt nhoài ảm đạm/ He hé mắt nhìn…/ Bốn bề bon chen/ Tám phương chật chội./ Ao chuôm ruộng vườn nhấp nhô nhà nhà đỏ chói/ Cỏ ngút ngàn…/ bao dự án bỏ hoang!
Tai họa lan tràn/ Tai họa đến từ rộm vàng trái cây xứ lạ/ Tai họa bám vào ngọn rau, con cá/ Tai họa ập bất ngờ từ vài lời bâng quơ…/ không rõ từ đâu/ Tai họa ẩn mình trong mong manh hoa lá sắc màu…/ Từ đời thật, và cả từ mạng ảo!/ Ai cũng có cơ hội bị lừa và trở thành lừa đảo!
Sống chết mặc bay!.../ Có hôm nay hãy cứ biết hôm nay/ Vét nốt chốn cuối cùng/ Tử tế!
Gần xa…/ Câu ví ngàn xưa là thế./ “Chong chóng bốn chiều/ Thò lò sáu mặt…”/ Trước? Sau?!/
Sát phạt, dọa dẫm nhau…/ Chỉ có đồng tiền là tối cao uy lực!/ Đồng tiền nối liền dặc dài khúc ruột/ Đồng tiền bán mua quan tước/ Đồng tiền lạnh tanh/ Ngạo nghễ/ Cười!/ Đồng tiền cười
Tiếng cười rợn người/ Tiếng cười ùng oàng bom đạn/ Tiếng cười băm núi rừng nát vụn/ Tiếng cười cạn bể lấp sông/ Tiếng cười đồng tiền vùi dập lương tâm…/ Tiếng cười ma quái/ Ngác ngơ bải hoải./ Sợ…/ Sợ triền miên/ Ngõ dọc, đường ngang/ Đồng quê… ven lộ/ Sợ…/ Ám ảnh bao nỗi sợ…
Và/ Tôi thành “lưu vong” ngay giữa quê mình!
Bài thơ như một thước phim quay chậm toàn cảnh cái xã hội thời chị đang sống. Một xã hội mà ở đó tồn tại bao nghịch lý, oái ăm. Những giá trị truyền thống bị đảo lộn, bao thói hư tật xấu, bao bất công, ngang trái đầy rẫy. Đồng tiền trở thành ma lực yêu quái, đồng tiền bán chức mua quan, đồng tiền tối cao uy lực, đồng tiền cũng đã làm tha hóa đảo điên, vùi dập lương tâm không biết bao người…
Thời gian trong thơ Hạt Cát Diệu Sinh là thời gian của tâm trạng và cảm xúc, không chỉ diễn ra trong hiện tại, hướng về tương lai mà chị còn nghĩ suy nhiều về quá khứ. Quá khứ với bao buồn, vui, đau đáu những nỗi niềm trắc ẩn. Tràn ngập trong thơ Hạt Cát đó là những nỗi nhớ:  nhớ những người đồng chí, đồng đội của mình, nhớ bạn bè, người thân. Đặc biệt là viết về những người lính trong những năm tháng gian lao, vất vả ở chiến trường. Những đồng chí, đồng đội của chị nhiều người đã ra đi vĩnh viễn, để lại nỗi tiếc thương và nỗi đau khó lành đối với những người còn sống. Hạt Cát Diệu Sinh cảm nhận rất rõ những mất mát và tổn thương trong quá khứ. 
Đọc bài thơ Gửi đồng đội là tử sĩ, người đọc không khỏi nhói lòng và rưng rưng xúc động. Cuộc chiến tranh vệ quốc đã cướp đi không biết bao nhiêu mạng người trên dải đất cong cong như hình chữ S này. Những bà mẹ mất con, những người vợ mất chồng, bao đợi chờ, tang thương cứ dày lên theo năm tháng. Nỗi đau chồng chất nỗi đau. Nhiều bà mẹ cạn khô nước mắt, nhiều người vợ ngơ dại chờ chồng, nhớ mong trong vô vọng. Cũng là cái chết ở chiến trường nhưng có người người là tử sĩ, có người là liệt sĩĐể rồi có lúc chị lại tự vấn bằng những lời nghe ai oán, não ruột làm saoĐọc từng câu trong bài là từng ấy những ray rứt, cắn xé, cấu véo tâm can người đọc. 
Tháng bảy./ Tháng bảy nào cũng thế!/ Nỗi tiếc thương sông bể trào dâng/ Âm – Dương xa cách muôn trùng/ Khói nhang nát cõi hư không dâng Người.
Hồn tử sĩ không nơi nương tựa/ Sốt rét run người tứa mồ hôi/ Đói no rau suối, sắn đồi/ Mỗi cơn nóng – lạnh vài người ra đi.
Người ốm lả chôn người đã mất/ Nước mắt khô, ai khóc được đây?/ Hôm  nay… ừ… có hôm nay/ Mai này… Liệu có mai này… mà mong?
Đến khổ thơ thứ 5, đọc lên nghe nghẹn nơi cổ họng, khóe mắt cay cay, bởi: Cúi đầu trước ai không liệt sĩ/ Trước bao người không sổ “ghi công”/ Những người không phải anh hùng/ Chết nơi chiến trận hồn không nơi về!

Bài thơ Gửi anh cũng là bài thơ cảm động, chị viết về một người bạn cùng tuổi, anh đi bộ đội khi chưa đầy 18 , rồi hy sinh ở tuổi 20 bên bờ sông Thạch Hãn.
Chiều định mệnh bên bờ Thạch Hãn/ Thư thì về, mà anh lại không!/ Kỷ niệm xưa như cát lắng đáy sông/ Trầm tích thương đau nghẹn lại.
Cứ mỗi năm lịch sang trang tháng bảy/ Là mỗi lần bỏng cháy bóng hình ai./ Vẫn tấm áo xưa xéo miếng vá vai/ Nguyên vẹn đường kim em vụng dại.
Một tâm hồn nồng nàn, một trái tim giàu cảm xúc nên chị có những vần thơ viết về Mẹ hết sức chân thành, cảm động. Một người Mẹ đã suốt đời hi sinh cho đàn con, chăm lo nuôi dạy, bảo bộc cho đến khi con khôn lớn nên người. 
Mẹ kìa!.../ Áo nâu, quần xoắn./ Nắng hè cháy vai/ Đêm đông lạnh buốt canh dài/ Giông mưa táp rũ sắn khoai ngoài vườn/ Chân gầy mòn cả con đường/ Tảo tần Mẹ gánh gió sương một mình./ Quản chi lên thác, xuống ghềnh/ Phần cho con hết tươi xanh cuộc đời.
Tình mẫu tử thiêng liêng ấy đã ăn sâu trong huyết mạch chị. Để rồi mỗi khi nhắc về Mẹ, nghĩ về Mẹ chị cảm thấy da diết nhớ thương, vui buồn lẫn lộn, tiếc nuối vì mẹ giờ đã về với cỏ xanh mây trắng.
Bao ngày…
Mẹ đã xa rồi
Mẹ đi trống cả đất trời quanh con
                                  (Về quê tối với Mẹ)
Dẫu biết rằng quy luật tuần hóa của tạo hóa, con người sinh ra, lớn lên, già cỗi rồi cũng sẽ đi về thế giới bên kia/ bởi sinh tử là lẽ thường tình nhưng ngày giao thừa không Mẹ, Hạt Cát Diệu Sinh cảm thấy cuộc đời vô nghĩa.
Biết cuộc đời có đến có đi
Biết con người có sinh có tử
Mẹ xa rồi tất cả thành vô nghĩa
Trống vắng giao thừa…
Trống vắng Tết mình con!
…………………………………..
Mâm cỗ giao thừa
Gió lạnh cuốn quanh
Nhang nến bập bùng ánh lửa.
Tết đến rồi, Mẹ ạ!
Cuối năm đêm… Mình con
Sân thượng
Rét tứ bề!
(Giao thừa không mẹ)
Mẹ không còn hiện hữu trên cõi đời này nữa,  Hạt Cát Diệu Sinh càng cảm thấy cô đơn, trống vắng, nỗi buồn lúc nào cũng bủa vây. Cả đất trời, mây nước cũng trở nên chơi vơi, hiu hắt, lạnh lùng.
Trời hồ Tây không sợi nắng/ Đường xưa mẹ thích dạo chơi/ Bây giờ… tịnh không bóng mẹ/ Tây Hồ mây nước chơi vơi!
………………………………….
Mẹ ạ./ Con không trẻ nữa/ mà như đứa trẻ lên ba!/ Từ khi mẹ về xa vắng/ bơ vơ… như kẻ không nhà!
Vô thường… kiếp người là vậy/ Cuộc đời bỗng thấy rỗng không/ Thanh minh quỳ bên mộ mẹ/ Nuốt khan nước mắt vào lòng!/ Bạc tiền con không thiết nữa/ Đói no con cũng chẳng màng./ Không mẹ… thảy thành vô nghĩa/ Cuộc đời như cuộn khói lam./ Sắc sắc – không không trống rỗng./ Có chăng? – Một cõi Niết Bàn!
                                        (Chiều Hồ Tây nhớ mẹ)
Những vần thơ viết về Anh – người yêu – người tình cũng thấm đẫm chất trữ tình. Đó có thể là những lời trách móc, hờn giận, nhớ thương, nuối tiếc về những điều bất thành… nhưng tất cả đều thể hiện tấm lòng vị tha của người đàn bà biết sẻ chia, thông cảm, hiểu người, hiểu mình. Tất cả những gì thua thiệt “Em” đều nhận về mình: Giấu kín nỗi buồn vào sâu nỗi đau/ Em cứ ngỡ trái tim thôi rỉ máu/ Thời thiếu nữ ngây thơ mộng ảo/ Dại khờ em xé rách chính mình (Vu vơ đầu tháng tư (2)).
Cứ ngỡ rằng… Em chẳng nhớ Anh/ Như xưa nay vẫn thế/ Trời không thề non, đất không hẹn bể/ Mà sao ruột gan như xát muối quặn đau! (Cứ ngỡ rằng).
Về đi anh/ Năm tháng dần qua/ Không còn nữa những gì xưa cũ/ Tóc em bạc bay thờ ơ ngọn gió/ Trái tim chiều len lén nỗi buốt đau (Về đi anh).

Hạt Cát Diệu Sinh còn dành những tình cảm đặc biệt đối với những mảnh đời kém may mắn, những số phận nghèo khổ. Có thể đó là hình ảnh của đứa bé ăn xin trên chợ Thái Hà, người đàn bà nhặt rác, người đàn ông nghèo ôm đàn hát nghêu bên Tây Hồ…
Những hình ảnh đối lập và sự xem thường của người đời đối với những phận người bé mọn làm cho chị đắng lòng. Chợ Thái Hà người chen đông đặc/ Lôi thôi vài túm rau trên tay các bà già/ Ô tô cắn đuôi nhau chậm chạm bò qua/ Giày cao gót bít bùng bịt mặt./ Tết hàn thực/ Bánh trái ê hề, la liệt/ Bán bán mua mua./ Hai đứa bé ăn xin/ Nước bọt nhểu ra/ Hau hau nhìn trắng phau mẹt bánh./ Người ta xua chúng như xua tà…/ Người ta tránh chúng như trách dịch.
Miệng tôi đắng ngắt/ Đổi mấy nghìn cho nụ cười lem luốc ăn xin/ Nhe răng sún cám ơn/ bàn tay lấm khư khư đĩa bánh!
Tôi ngẩn người giữa phố đông tê lạnh…
                        
(Đứa bé ăn xin)
Bà cụ nhặt thứ mà người ta vất đi/ những mẩu sắt cong queo vạy vọ/ những mảnh giấy nát nhầu/ những vỏ lon méo mó/ Ném ra/ từ bàn tay trắng ngần móng đỏ/ từ bàn tay múp míp lấp lóe vàng/ từ cửa xe sáng choang/ từ đỏng đảnh đôi giày ngất nghểu/ từ hở hang yểu điệu/ từ no đủ phởn phơ/ từ những ngôi nhà/ Cụ mong một lần được đến… trong mơ!

Là người phụ nữ từng trải, có nhiều vốn sống, vốn văn hóa lại có tâm hồn nhạy cảm nên Hạt Cát Diệu Sinh nắm bắt rất tinh tế những biến động, va đập của đời sống vào trong tác phẩm của mình. Vì lẽ đó mà thơ chị tạo được sự đồng cảm cho người đọc.
Người đọc dễ nhận thấy trong thơ Hạt Cát tần số sử dụng câu hỏi tu từ, dấu chấm cảm, dấu ba chấm và biện pháp ẩn dụ dày đặc. Khảo sát trong trong 312 bài thơ (ở 2 tập thơ Hạt Cát 1 và Hạt Cát 2) có đến 862 lần sử dụng dấu ba chấm (…), 622 lần sử dụng dấu chấm cảm (!), 317 lần sử dụng dấu chấm hỏi (?). Đó cũng là thế mạnh để tạo nên những điểm nhấn, gây sự chú ý và tạo nên sự ám ảnh đối với người đọc.
Thơ với chị là cuộc chơi, một cuộc chơi lý tưởng, tao nhã, giúp cân bằng và bù đắp những thiếu hụt về mặt tinh thần trong những năm tháng tuổi xế chiều. Thơ Hạt Cát Diệu Sinh là tiếng nói đa dạng với nhiều nội dung phong phú. Cái tôi khát vọng mãnh liệt với những suy tư trăn trở trước cuộc sống và tình yêu. Đọc thơ Hạt Cát, nhà thơ Lý Phương Liên cho rằng: “Mình làm thơ đã dễ, Cát làm thơ càng dễ hơn. Hai đứa đều như thấy caí gì, thích cái gì viết ra cái đó, viết không kịp nghĩ và đôi khi thực chẳng biết viết những dòng đó ý nghĩa gì, mục đích gì. Cái đó các ông nhà thơ gọi là ngẫu hứng? Còn mình cho là thú chơi thơ, chẳng biết Cát có nghĩ thế? Chỉ có điều mình chơi thơ trong không gian hẹp hơn, Cát chơi thơ trong không gian rộng hơn”.
Thơ Hạt Cát Diệu Sinh “làm chơi” nhưng phải đọc thật, đọc thơ chị người đọc mới thấy đó là những trang đời. Và vì “làm chơi”, làm theo xúc cảm nên đôi lúc có những câu chữ chưa được đẽo gọt kỹ, có khi lặp lại. Cũng vì làm thơ chơi nên chị lại quá ôm đồm ở nhiều thể loại thơ. Nếu chị chú tâm và làm kỹ lưỡng ở 1,2 thể loại thơ thì chắc chắn thơ chị sẽ có sức sống.
Thơ Hạt Cát Diệu Sinh là tiếng thơ của một người phụ nữ từng trải, thơ chị chính là tiếng lòng, sự trăn trở, nghĩ suy về con người, cuộc đời, thời cuộc. Cuộc sống hiện đại vốn đa diện, đa chiều qua cái nhìn của chị nó hiện lên bức tranh đời với nhiều nhức nhối, đa đoan. Đọc thơ Hạt Cát, người đọc như đang đắm mình trong bức tranh đời sống hiện thực. Hiện thực đã và đang diễn ra trong thơ và trong cả cõi đời thực bên ngoài.
Thơ chị như lớp trầm tích được tích tụ và dồn nén trong thời gian dài, nay mới có điều kiện “khai quật”, phát xuất. Điều đó phần nào cắt nghĩa, lý giải vì sao thơ Hạt Cát viết có lúc như có một đấng siêu nhiên nào trợ giúp. Thơ tuôn chảy không ngừng nghỉ, giống như mạch nước ngầm cứ âm ỉ, miệt mài và bền bỉ chảy. Chảy trong tiềm thức và cả trong cõi người, cõi đời thực. Điều lạ là có những từ ngữ hay được chị dùng nhưng chính chị khi đọc lại cũng cảm thấy ngỡ ngàng, không hiểu vì sao mình nghĩ ra  những từ như vậy để mà sử dụng. Hạt Cát Diệu Sinh kể: “Có lúc cha tôi (Cụ Bùi Hạnh Cẩn) đọc cũng phải ngạc nhiên và hỏi tôi: sao con tìm đâu những từ hay và viết tài tình đến vậy”.
Hạt Cát là người lặng lẽ sống, lặng lẽ viết. Chị làm thơ không phải để đăng báo, không để in và quảng bá, hay để đánh bóng tên tuổi mình. Làm thơ với chị như một nhu cầu tự thân. Chị cần mẫn, chăm chỉ như con ong tìm hương hoa về làm đầy tổ mật; chị viết, chị đọc, tập hợp và in cẩn thận để tặng bàn bè. Phải chăng đó là niềm vui, niềm hạnh phúc của chị ở tuổi xế chiều?./.

Hạt Cát Diệu Sinh tên thật là Bùi Cửu Trường (con gái của nhà văn hóa Bùi Hạnh Cẩn), sinh năm 1948, Thày thuốcTrung y đã nghỉ hưu. 
Các đầu sách đã in: Lời ong mật, Nhà xuất bản Hà Nội, 1979; Thơ Hạt Cát, Nhà xuất bản Văn học, 2013, Thơ Hạt Cát 2, Nhà xuất bản Hội Nhà văn, 2017; Thuốc Nam cho gia đình, 2013 và tham gia nhiều Tuyển tập văn chương khác.


Nguyễn Văn Hòa
Điện thoại: 0984.833.247


;

SỚM MƯA ĐÔNG

Trong hình ảnh có thể có: ngoài trời và nước

SỚM MƯA ĐÔNG
Sẻn so giọt lạnh dỗi hờn
Sớm đông mưa 
buốt
thấu cơn bấc lùa.

Bing boong
vóng vót
chuông chùa
Gieo 
băng giá 
tái tê mùa.
Đông ơi!

Hat Cat 15/12/2017
;

Thứ Sáu, 8 tháng 12, 2017

NGHĨ VẨN VƠ

NGHĨ VẨN VƠ

Đã lâu rồi chả tự nhớ mình
Níu thinh không niệm lời giải thoát
 ráng hồng rẻ quạt
 xua chiêu oi nồng
 binh minh lửa hồng
sưởi ban mai giá buốt
...

Tứ đại quy về một
Ta một mình về nhất nguyên vô vi.ư


Cánh bướm Trang Chu
Giấc Nam Kha bơ bải
Phi thường ĐẠO hỗn mang /
Vô thường dàn trải
Trăng đáy nước / nhất không Vô vi.

Buông cuộc méo tròn tham - sân - si
Buông đã qua, buông chưa tới
An bình hiện tại

Xin đừng mong luân hồi, đừng mộng tái sinh!

Đến một mình
Đi một mình
Từ lòng mẹ
trỏ về lòng đất.
...

Luẩn quẩn mất còn - còn mất.
Chả gì hơn an bình hiện tại
Thoáng sat -na!
;

Thứ Tư, 6 tháng 12, 2017

HỒI KẾT - ĐÔNG

HỒI KẾT - ĐÔNG.

Lạc loài một tiếng gáy nghèn nghẹn đứt quãng của một con gà tre như bị chẹn cổ...

Đông.
Mùa đông nào chả vậy, cứ buốt thon thót như kim châm, như xát muối vào từng thớ thịt làn da, rút tụt cả hơi thở
Đêm bóc xóc trở  mình.
Gió rón rén đi hoang trong đêm lặng.
Phố xá yên ắng đến lạ kỳ. Nó ngủ?!

Đông.
Người ta không rú ga, không nẹt bô như gào, như khạc giống như các mùa khác.
Cũng không có tiếng cười ré hay tiếng nhạc xập xình như mùa khác,
Ngõ vắng về ban ngày, càng vắng về ban đêm. Cái vắng như có gì đó tê tái buốt giá, như hù doạ, lại như câm nín, lại như cam chịu.
Ngõ vắng. Vắng cả những ngọn đèn trước đây thường sáng thấu bình minh.
   Người ta tắt đèn cho đêm ngủ.? Người ta bớt xén chút ánh sáng ngõ vắng hòng đầy thêm những cái hầu bao toang hoác không đáy của những kẻ lừa đảo, tham lam.
.
Người ta tắt đèn cho dối gian đồng loã đêm đông... Cho nhoà nhoà cái bóng của vòi bạch tuộc quờ quạng khắp xó xỉnh.

Đông.
Hồi kết thường hối hả ở sự bán mua, chia chác.
Hồi kết của những trò ma mãnh để vét cạn những gì béo bở còn sót lại nhét mồm.
Rét đóng váng mỡ màu vàng nhừa nhựa trên mặt ngõ hầu chở che nước đục lờ lờ dưới đáy thum thủm.

Đông.
Hồi kết của một năm
Hồi kết của một vòng quay...

... Chầm chậm lần theo hồi kết. Ta buông!

Hat Cat
Khuya đêm 01/12/2016
;

CHIỀU ĐÔNG NẮNG VIẾT CHO MÌNH

CHIỀU ĐÔNG NẮNG VIẾT CHO MÌNH
hãy giành chút cuối cùng
cho hư không tĩnh lặng
chiều đông nắng

dịu dàng rớt nhẹ cành khô.

hãy giành sông cho xanh cỏ mép bờ
vây cá quẫy ngang dòng chảy 
xưa cũ vời xa nát bấy 
rã hoàng hôn.

khẽ khàng cửa đêm 
xoè ráng đỏ.
trăng thanh mịn vỡ 
rộm vàng mặt nước ánh kim.

hãy nhớ và hãy quên
an lành tâm tưởng.

Hat Cat 4/12/2017

Hat Cat 4/12/2017



;

Thứ Ba, 5 tháng 12, 2017

NÉT VỤN ĐÔNG

NÉT  VỤN ĐÔNG

Đông le te dụ rét cùng về
Vạt lạnh gầy còm nắng nhạt
Mây cau có rắc bung mưa lạc
Chiều xám mù ngoắc lạt treo đêm

Bờ môi đông tê tê mịn mềm
Nhâm nhi tình hứng giọt
Tí tách
nguồn yêu sữa ngọt
đắm mê.

Rằm đông bỏ ngỏ lối khuya
Tinh vân xa xôi ánh loang mờ tỏ
Ngọn bấc nóc nhà rung nhẹ
Len lén
Mơ.

Đông đêm lắng hồ
Con cá  đớp mảnh trăng bánh tẻ
Con lươn lượm sao non trộn bùn bít tổ
Đàn rồng rồng lao xao rỉa bèo mây.

Đông ủ giấc lạnh say
Hơi nồng quàng chăn tình ấm
Vòng tay đông quyện chặt.

Mộng mị đông
ren rén
nhú mầm
Xuân .
;

Thứ Hai, 4 tháng 12, 2017

HAIKU nhỉ?



THOÁNG

Choàng ngang rét chiều
bước chân xiêu
Tắt nắng!

Gió bấc tạt cây
Đông héo gầy
lả tả.

Nỗi nhớ xoe tròn
Nụ hôn
Bất tận.

Bông hoa hồng
Nở đỏ hoàng hôn
Đêm mỉm cười .
;

Chủ Nhật, 3 tháng 12, 2017

CUỐI TRỜI MỘT THOÁNG BÂNG QUƠ

CUỐI TRỜI MỘT THOÁNG BÂNG QUƠ

Cuối trời một thoáng bâng quơ
Bâng quơ vầng mây ấm lạnh
Bồng bềnh… nỗi nhớ xa xôi

Cuối trời làn gió chơi vơi
Ngập ngừng
bỡ ngỡ
Tình bâng quơ
Nỗi nhớ cũng bâng quơ.

Cuối trời

trăng sao  cười, khóc...

Tình bâng quơ
Nỗi nhớ cũng bâng quơ…!
;

Thứ Bảy, 2 tháng 12, 2017

DOẠ ĐÔNG

DOẠ ĐÔNG

Nụ hôn đông buốt ruột gan
Vòng ôm đông hết đại hàn vẫn run.

... Tức mình đốt quách đống rơm
Hun vòng ôm, hun nụ hôn khói mù
Cho đông gan ruột đỏ lừ
Cho đại hàn chết đứ đừ giũa đông.
...
Đáng đời đông nhé!
Sợ không?
Rét đi theo chồng, đông ở với ai? ! ..

Heheeee...

HatCat. 02/02/2016
;

Thứ Hai, 27 tháng 11, 2017

AI XUI TÔI

AI XUI TÔI NHỚ MỘT NGƯỜI

Ai xui tôi nhớ một người
Đứng nhớ đứng. Ngồi nhớ ngồi.
Bởi đâu?

Muộn đông cau úa đằng cau
Trầu xanh một nẻo nát nhàu như dưa
Bình vôi òng õng nước mưa...
Căm căm gió bấc cứ lùa sáng canh.

Lập loè sao vãi lân tinh
Cong cong tre ngọn buông mình thả câu
Rung khuya lại sợ trăng đau
Nhổ sào lại hãi bến sau hết người...

Một mình chả khóc chả cười
Oằn lưng duyên kiếp nợ đời xưa sau.

Nong tằm thay mấy lần dâu?!
;

EM ĐI TÌM CÕI MAI NÀY

EM ĐI TÌM CÕI MAI NÀY
( Sáng nay một Cụ Anh nhờ đi tìm nơi ẩn dấu Hạnh phúc Vĩnh hằng )

Em đi tìm cõi mai này
Cây sớm ôm vai nắng
Đông lặng
Đưa em về tinh khôi.

Em lật mé dưới gầm trời
Khoảng rỗng không chật hẹp
Gang tấc...
Viên gạch nâu hồng rắn câng.

Nhón bàn chân
Do dự em không biết tương lai hay quá khứ?
nặng nề hơi thở
Đông vô tình chẹn mong manh em.

Em đăm đắm mò vô hình đêm
Em xoe xoe tóm vô hình nắng
Cõi đời ồn ào, cõi đời vắng lặng
Em đi qua em
tìm cõi mai này.

... Nắng đông chợt nồng cay.
Giọt nước mắt nhểu  gò má lạnh.

Hat Cat
27/11/2016
;

Chủ Nhật, 26 tháng 11, 2017

CHỢT HƯƠNG SỮA

CHỢT HƯƠNG SỮA

Chợt hương sữa vấn vít mình
Chợt đông
cũng xốn xang tình
 hả đông?

Chợt khuya ướt rượt môi hồng
Lon xon ngọn bấc
phập phồng khát khao.

HatCat 26/11/2017





;