Thứ Năm, 27 tháng 4, 2017

THAM KHẢO HỮU ÍCH

 CÁCH ĐỌC KẾT QUẢ SINH HÓA MÁU

GLUCOSE là đường trong máu. Giới hạn bình thường từ 4,1-6,1 mnol/l.

XIN ĐỪNG ĐÁNH ĐU CÙNG GIÓ


chao đảo đu tình
như nghẹt thở, như hụt hơi
Mình ơi!
xin đừng đánh đu cùng gió!

Cột tình veo vọ
dây tình mỏng tang.
nắng sợi vàng
mây bông trắng
hút vào trống vắng.
oà về rỗng không.

Gió xoáy vòng
gió lạc xua tình cạn kiệt.
Tình hoang đường
 tình oan nghiệt
thắt cỏ gió đồng trinh.

thôi mình
xin đừng đánh đu cùng gió!

Hat Cat 28/04/2017
;

Thứ Tư, 26 tháng 4, 2017

VỤN

Trong hình ảnh có thể có: thực vật, cây, ngoài trời và thiên nhiên
( toát mồ hôi cho cả 2 giờ đồng hồ đi tìm chìa khoá cửa. Lúc hết hy vọng mới lần lại cái túi đựng cuộng hoa lá. 
Nó nằm đấy - Cái chìa khoá! May mà chiều quên không đổ rác! 
Rồi bỗng sính Triết lý)

;

CUỐI CÙNG RỒI SẼ BÊN NHAU

Trong hình ảnh có thể có: hoa, thực vật, ngoài trời và thiên nhiên
... Mặc cho vẫn gió ngược xuôi
Đất vẫn đất, giời vẫn giời.
Muôn năm
;

Thứ Hai, 24 tháng 4, 2017

CÀNG ĐỌC CÀNG THÈM ĐỌC - ĐỊNH LÝ BẤT TOÀN



ĐỊNH LÝ BẤT TOÀN CỦA GÖDEL: KHÁM PHÁ TOÁN HỌC SỐ I CỦA THẾ KỶ XX
Dường như Einstein không tìm thấy ai hiểu mình hơn Gödel, đến nỗi có lần ông nói với mọi người rằng ông đến văn phòng của ông trong Đại học Princeton “chỉ để có cái đặc ân được cùng đi bộ với Gödel về nhà”. (Ảnh: Internet) 

Bài giảng của Perry Marshall
( bản lược dịch củaPhạm Việt Hưng.)

Gottfried Leibniz:

“Không có toán học chúng ta không thể đi sâu vào triết học. Không có triết học chúng ta không thể đi sâu vào toán học. Không có cả hai chúng ta không thể đi sâu vào bất cứ thứ gì”.

Galileo Galilei:

“Toán học là ngôn ngữ Chúa [1] viết trong vũ trụ”

 Năm 1931, Kurt Gödel giáng cho các nhà toán học trong thời của ông một đòn nặng nề

 Năm 1931, nhà toán học trẻ Kurt Gödel có một khám phá mang tính bước ngoặt, gây ra những chấn động lớn như những gì Albert Einstein đã làm.

Khám phá của Gödel không chỉ áp dụng cho toán học, mà thực ra áp dụng cho tất cả các ngành của khoa học, logic và hiểu biết của con người nói chung. Nó thực sự làm rung chuyển trái đất.

Nhưng trớ trêu thay, không mấy ai biết về nó. Vậy hãy cho phép tôi nói với các bạn câu chuyện về định lý này.

Các nhà toán học vốn thích chứng minh mọi thứ. Vì thế họ nóng lòng và băn khoăn trong suốt nhiều thế kỷ vì có một số định đề toán học họ nghĩ là đúng nhưng không thể CHỨNG MINH. Chẳng hạn nếu bạn đã từng học Hình học ở trường trung học, hẳn là bạn đã làm những bài tập chứng minh các tính chất của tam giác dựa trên một số định lý cơ bản.

 Môn hình học đó được xây dựng trên 5 tiên đề của Euclid. Mọi người đều thấy những tiên đề đó là đúng, nhưng sau 2500 năm vẫn không có ai tìm ra cách chứng minh chúng. Vâng, dường như hoàn toàn hợp lý khi cho rằng một đường thẳng có thể kéo dài vô tận về hai phía, nhưng không ai có thể CHỨNG TỎ điều đó. Chúng ta chỉ có thể bầy tỏ rằng đó là một tập hợp 5 tiên đề hợp lý, và thực tế là cần thiết.

 Những thiên tài toán học cao chót vót đã thất vọng trong hơn 2000 năm bởi vì họ không thể chứng minh tất cả các định lý của họ. Có rất nhiều điều “rõ ràng” là đúng nhưng không ai có thể tìm ra cách chứng minh.

Tuy nhiên, vào những năm đầu của thập niên 1900, một niềm lạc quan to lớn bắt đầu phát triển trong giới toán học. Các nhà toán học xuất sắc nhất thế giới lúc đó (như Bertrand Russell, David Hilbert và Ludwig Wittgenstein) tin rằng họ đang nhanh chóng tiến gần tới một phương pháp tổng hợp cuối cùng.

(Họ tin rằng) một sự thống nhất “Lý thuyết về mọi thứ” rốt cuộc sẽ thít chặt các đầu mối lỏng lẻo. Toán học sẽ kiện toàn, đạn bắn không thủng, không có kẽ hở cho không khí lọt vào, và toán học sẽ đắc thắng. (Nhưng) năm 1931, nhà toán học trẻ người Áo, Kurt Gödel, đã công bố một công trình CHỨNG MINH một lần và mãi mãi rằng một Lý thuyết Duy nhất về Mọi thứ thực ra là không thể có (impossible, bất khả).

Khám phá của Gödel được gọi là “Định lý Bất toàn”.

Nếu bạn dành cho tôi vài phút, thì tôi sẽ giải thích với bạn định lý đó nói gì, Gödel đã khám phá ra định lý đó như thế nào, và định lý đó có ý nghĩa gì – tôi nói bằng một ngôn ngữ mộc mạc, đơn giản đến nỗi ai cũng hiểu.

ĐỊNH LÝ BẤT TOÀN của Gödel nói rằng:

“Bất cứ điều gì mà bạn có thể vẽ một vòng tròn bao quanh nó sẽ không thể tự giải thích về bản thân nó mà không tham chiếu đến một cái gì đó ở bên ngoài vòng tròn – một cái gì đó mà bạn phải thừa nhận là đúng nhưng không thể chứng minh.”

Định lý Gödel nói rằng: “Bất kỳ lý thuyết nào được tạo ra một cách hiệu quả đủ khả năng biểu diễn số học sơ cấp đều không thể vừa nhất quán vừa đầy đủ. Đặc biệt, đối với bất kỳ lý thuyết hình thức nào nhất quán, được tạo ra một cách hiệu quả cho phép chứng minh một số chân lý số học căn bản, sẽ có một mệnh đề số học đúng nhưng không thể chứng minh trong lý thuyết ấy.”

Luận đề Church-Turing nói rằng một hệ vật lý có thể biểu diễn số học sơ cấp y như con người, và rằng số học của Máy Turing (computer) không thể chứng minh được bên trong hệ thống đó và do đó computer cũng bất toàn.

Bất kỳ hệ vật lý nào có thể đo lường đều có khả năng biểu diễn số học sơ cấp (Nói cách khác, trẻ em có thể làm toán bằng cách đếm ngón tay, nước chảy vào thùng sẽ tạo nên một lượng nước đếm được, và các hệ vật lý luôn luôn đua ra câu trả lời rõ ràng).

Do đó vũ trụ (thế giới vật lý) có khả năng biểu diễn được bằng số học sơ cấp và giống như bản thân toán học và computer, vũ trụ ấy là bất toàn.

Lý luận trên có thể tóm tắt bằng tam đoạn luận sau đây:

1. Mọi hệ thống đủ phức tạp có thể tính toán được đều bất toàn.
  
2. Vũ trụ là một hệ đủ phức tạp có thể tính toán được.

3. Do đó vũ trụ là bất toàn.

Bạn có thể vẽ một vòng tròn xung quanh tất cả các khái niệm trong cuốn sách hình học trung học của bạn. Nhưng tất cả chúng được xây dựng trên 5 tiên đề của Euclid, những tiên đề này rõ ràng là đúng nhưng không thể chứng minh. 5 tiên đề đó nằm ngoài cuốn sách, tức là bên ngoài vòng tròn bạn vừa vẽ.

Bạn cũng có thể vẽ một vòng tròn xung quanh một chiếc xe đạp nhưng sự tồn tại của chiếc xe đạp đó dựa vào một nhà máy ở bên ngoài vòng tròn đó. Chiếc xe đạp không thể tự giải thích sự tồn tại của bản thân nó.

Gödel chứng minh rằng LUÔN LUÔN có nhiều cái đúng hơn là cái bạn có thể chứng minh. Trong bất kỳ hệ thống logic hay hệ thống số nào mà các nhà toán học đã từng xây dựng được đều luôn luôn tồn tại ít nhất một vài giả định không thể chứng minh.

Định lý bất toàn của Gödel không chỉ áp dụng cho toán học, mà cho mọi đối tượng tuân thủ các định luật của logic. Bất toàn đúng trong toán học; nó cũng đúng trong khoa học hay ngôn ngữ hoặc triết học.

Và: Nếu vũ trụ mang tính chất toán học và logic thì tính bất toàn cũng áp dụng cho vũ trụ.

Gödel sáng tạo ra chứng minh của mình bằng cách khởi đầu với “Nghịch lý Kẻ nói dối” (The Liar’s Paradox) – đó là mệnh đề:
“Tôi đang nói dối.” (I am lying)

Mệnh đề “Tôi đang nói dối” là một mệnh đề tự mâu thuẫn, bởi nếu mệnh đề ấy phản ánh đúng sự thật, rằng tôi là một kẻ nói dối, thì suy ra mệnh đề vừa nói không đáng tin cậy, tức là mệnh đề ấy mâu thuẫn với chính nó; nếu mệnh đề ấy sai, lập luận tương tự cũng đi đến mâu thuẫn .

Tương tự như vậy, bằng một trong những biến đổi khéo léo nhất trong lịch sử toán học, Gödel đã chuyển Nghịch lý Kẻ Nói Dối thành một công thức toán học. Ông đã chứng minh rằng bất kỳ một mệnh đề nào cũng đòi hỏi một quan sát viên bên ngoài.

Không có mệnh đề nào (một sự trình bày nào) có thể một mình nó tự chứng minh nó đúng.

Định lý bất toàn của Gödel là một đòn nặng nề giáng vào “chủ nghĩa thực chứng” trong thời đại đó. Gödel chứng minh định lý của ông một cách rõ ràng trắng đen đến nỗi không ai có thể tranh cãi với logic của ông.

Tuy nhiên một số đồng nghiệp toán học của ông đến lúc ra đi về bên kia thế giới vẫn phủ nhận ông, tin rằng bằng cách này hay cách khác, trước sau Gödel chắc chắn phải sai.

Nhưng ông không sai. Định lý của ông thực sự đúng. Có nhiều cái đúng hơn là cái bạn có thể chứng minh. Một “lý thuyết về mọi thứ” – dù trong toán học hay vật lý, triết học – sẽ không bao giờ tìm thấy. Đơn giản vì nó không thể tồn tại (impossible, bất khả).

OK, vậy điều này thực ra có ý nghĩa gì? Tại sao vấn đề này lại là vô cùng quan trọng, thay vì chỉ là một chuyện phiếm để mua vui?

Đây là ý nghĩa của định lý:

● Đức tin và Lý lẽ không phải là kẻ thù của nhau. Thực ra điều ngược lại mới đúng! Cái này nhất thiết cần cái kia để tồn tại. Mọi lý lẽ rốt cuộc đều quay trở lại niềm tin vào một cái gì đó mà bạn không thể chứng minh.

● Mọi hệ thống đóng kín đều phụ thuộc vào một cái gì đó ở bên ngoài hệ thống.

● Bạn luôn luôn có thể vẽ một vòng tròn lớn hơn nhưng sẽ luôn luôn tồn tại một cái gì đó bên ngoài vòng tròn.

● Lý lẽ hướng từ một vòng tròn lớn hơn vào một vòng tròn nhỏ hơn là “lý lẽ suy diễn”(deductive reasoning). Thí dụ:

1. Mọi người đều sẽ chết.

2. Socrates là một con người.

3. Vậy Socrates sẽ chết.

● Lý lẽ hướng từ một vòng tròn nhỏ hơn ra một vòng tròn lớn hơn là “lý lẽ quy nạp”. Thí dụ:

1. Khi tôi thả đồ vật ra, chúng sẽ rơi.

2. Do đó tồn tại một định luật về hấp dẫn chi phối mọi vật thể rơi.

Chú ý rằng khi bạn chuyển từ vòng tròn nhỏ hơn ra vòng tròn lớn hơn, bạn phải thừa nhận rằng bạn không thể chứng minh 100%.

Chẳng hạn bạn không thể CHỨNG MINH lực hấp dẫn luôn luôn tồn tại vào mọi lúc. Bạn chỉ có thể nhận thấy lực hấp dẫn tồn tại vào mỗi lúcc bạn quan sát. Bạn không thể CHỨNG MINH vũ trụ là hợp lý (rational, tuân thủ những quy luật nhất định). Bạn chỉ có thể nhận thấy các công thức toán học, như E = mc2 chẳng hạn, dường như mô tả một cách hoàn hảo cái mà vũ trụ tiến hành.

Gần như mọi định luật khoa học đều dựa trên lý lẽ quy nạp. Những định luật này đều dựa trên một giả định cho rằng vũ trụ là logic và dựa trên những định luật cố định có thể khám phá ra. Bạn không thể CHỨNG MINH giả định đó ( Bạn không thể chứng minh mặt trời sẽ mọc vào buổi sớm mai). Thực ra bạn phải chấp nhận điều đó bằng niềm tin. Khoa học được xây dựng trên những giả định triết học mà bạn không thể chứng minh bằng khoa học. Thật vậy, phương pháp khoa học không thể chứng minh, nó chỉ có thể gợi ý, phỏng đoán (Khoa học xuất phát từ tư tưởng nguyên thủy rằng Thần [2] tạo ra một vũ trụ có trật tự tuân thủ các định luật cố định có thể khám phá được).

Bây giờ hãy xem xét điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta vẽ vòng tròn lớn nhất có thể có – vòng tròn bao quanh toàn thể vũ trụ (nếu có đa vũ trụ thì vẽ môt vòng tròn chứa tất cả những vũ trụ đó):

● Phải có một cái gì đó bên ngoài vòng tròn đó. Một cái gì đó mà chúng ta phải thừa nhận là không thể chứng minh được.

● Vũ trụ mà chúng ta biết là hữu hạn – hữu hạn vật chất, hữu hạn năng lượng, không gian hữu hạn và thời gian là 13.7 tỷ năm tuổi.

● Vũ trụ ấy mang tính chất toán học. Bất kỳ hệ vật lý nào có thể đo đạc đều có thể biểu diễn bởi số học (Bạn không cần biết toán học để làm phép cộng – bạn có thể sử dụng bàn tính gẩy tay để tìm câu trả lời vào mọi lúc).

● Vũ trụ (tất cả mọi vật chất, năng lượng, không gian, thời gian) không thể tự giải thích cho nó.

● Bất kể cái gì ở bên ngoài vòng tròn lớn nhất đều là vô hạn. Theo định nghĩa, không thể vẽ một vòng tròn bao quanh nó .

● Nếu chúng ta vẽ một vòng tròn bao quanh mọi vật chất, năng lượng, không gian và thời gian và áp dụng định lý Gödel, chúng ta sẽ thấy cái gì ở ngoài vòng tròn đó sẽ không phải là vật chất, không phải năng lượng, không phải không gian và cũng không phải thời gian. Đó là thế giới phi vật chất.

● Bất kể cái gì ở bên ngoài vòng tròn lớn nhất đều không phải là một hệ thống – nghĩa là không phải một tập hợp bao gồm các thành phần. Nói cách khác, nếu chúng ta có thể vẽ một vòng tròn bao quanh vật chất, năng lượng, không-thời-gian thì cái nằm ngoài vòng tròn ấy là không thể phân chia được.

● Bất kể cái gì ở bên ngoài vòng tròn lớn nhất đều là nguyên nhân không có nguyên nhân, bởi vì bạn luôn luôn có thể vẽ một vòng tròn bao quanh một kết quả.

Chúng ta có thể áp dụng lý lẽ quy nạp tương tự cho nguồn gốc của thông tin:

● Trong lịch sử vũ trụ, chúng ta cũng đã biết sự xuất hiện của thông tin, vào khoảng 3.5 tỷ năm trước. Nó xuất phát từ mã của Hệ Di truyền (Genetic code), một thứ phi vật chất mang tính biểu tượng .

● Thông tin phải xuất phát từ bên ngoài, bởi vì thông tin được biết không phải là một đặc trưng vốn thuộc về vật chất, năng lượng và không gian hoặc thời gian.

● Mọi mã mà chúng ta biết nguồn gốc đều được thiết kế bởi những thực thể có ý thức.

● Do đó bất kể cái gì ở bên ngoài vòng tròn lớn nhất cũng phải là một thực thể có ý thức.

Nói cách khác, khi chúng ta bổ sung thông tin vào trong phương trình, chúng ta có thể kết luận rằng cái ở bên ngoài vòng tròn lớn nhất không chỉ vô hạn và phi vật chất, mà còn có ý thức.

Chẳng phải thú vị hay sao khi những vấn đề này nghe có vẻ đáng ngờ vực như những gì mà các nhà thần học đã mô tả Thần trong hàng ngàn năm nay?

Vì thế sẽ chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi thấy 80-90% dân chúng trên thế giới đều có tín ngưỡng vào Thần theo một cách nào đó. Thật vậy, đó là trực giác đối với phần lớn các dân tộc. Nhưng định lý Gödel chỉ ra rằng đó cũng là logic tối cao. Thực ra đó là lập trường duy nhất mà người ta có thể nắm lấy và đứng trên đó trong vương quốc của lý lẽ và logic.

Người nào tự phụ tuyên bố “Bạn là người của đức tin, còn tôi là người của khoa học” thì người ấy không hiểu gốc rễ của khoa học hoặc bản chất của tri thức!

Một khía cạnh thú vị khác…

Nếu bạn có dịp thăm một trang mạng vô thần lớn nhất thế giới có tên là Infidels, bạn sẽ thấy trên trang chủ lời tuyên bố sau đây:

“Chủ nghĩa duy tự nhiên (naturalism) là giả thuyết cho rằng thế giới tự nhiên là một hệ đóng, ngụ ý rằng không có cái gì không phải là thành phần của thế giới tự nhiên mà lại ảnh hưởng lên nó”


Nếu bạn biết định lý Gödel, bạn sẽ thấy rằng mọi hệ logic phải phụ thuộc vào một cái gì đó ở bên ngoài hệ thống. Vậy theo định lý bất toàn của Gödel, tuyên bố của trang mạng Infidels không thể chính xác. Nếu vũ trụ là logic, nó phải có một nguyên nhân bên ngoài.
Do đó chủ nghĩa vô thần vi phạm các định luật của lý lẽ và logic.

Định lý Bất toàn của Gödel chứng minh một cách dứt khoát rằng khoa học không bao giờ có thể lấp kín những lỗ hổng của chính nó. Chúng ta không có lựa chọn nào khác là nhìn ra bên ngoài khoa học để tìm câu trả lời.

Tính Bất toàn của vũ trụ không phải là chứng minh cho việc Thần tồn tại. Nhưng… đó LÀ chứng minh cho nhận định rằng để kiến tạo nên một mô hình vũ trụ hợp lý thì niềm tin vào Thần không chỉ logic 100%… mà đó là điều cần thiết.

5 tiên đề của Euclid không thể chứng minh một cách hình thức và Thần cũng không thể chứng minh một cách hình thức . Nhưng… giống như bạn không thể xây dựng một hệ thống hình học chặt chẽ mà không có 5 tiên đề của Euclid, bạn cũng không thể xây dựng một lý thuyết mô tả vũ trụ chặt chẽ mà không có Nguyên nhân Ban đầu và một Cội Nguồn của trật tự.

Do đó đức tin và khoa học không phải là kẻ thù của nhau, mà liên minh với nhau. Điều đó đã đúng trong hàng trăm năm, nhưng đến năm 1931 thì nhà toán học trẻ gầy ốm Kurt Gödel đã chứng minh điều đó.

Không có thời kỳ nào trong lịch sử nhân loại đức tin vào Thần lại trở nên có lý hơn, logic hơn, hoặc hoàn hảo hơn bằng khi nó được hỗ trợ bởi khoa học và toán học.



Và để kết bài, xin trích dẫn một câu nói của Einstein:
;

NỖI NHỚ

NỖI NHỚ

Liu riu là nỗi nhớ mình
Cài khuya, sao đính bồng bềnh ngọn cây
Giở giời khiến gió cay cay
Khiến mưa đăng đắng gáo đầy, gầu vơi.
Sẻn so cả ánh ma trơi
Tằn tiện đêm ém củi vùi trăng suông.

...Lửng lơ một tiếng vạc buông
Giật mình.
Gà bỗng gáy dồn sang canh.

Liu riu là nỗi nhớ mình.




Hat Cat 24/04/2017 



;

Đỗ Thị Xuân Lan TẢN MẠN VỀ YÊU VÀ CHIA XA

TẢN MẠN VỀ YÊU VÀ CHIA XA
(Cảm nghĩ của Orchid về bài thơ BẾN SÔNG XƯA của HẠT CÁT)

    Mấy hôm nay ngày hè rảnh rỗi, tôi lang thang đọc trên mạng nhiều hơn, thấy ở đâu đó trong cuộc sống người ta yêu nhau, rồi lại ghét nhau, rồi hận nhau sao mà dữ dội quá. Những giá trị đẹp trong tình yêu phải chăng đã bị lu mờ nhạt nhòa bởi tiền, bởi nhịp sống gấp gáp vội vã. Tôi lần giở tập thơ Hạt Cát ra đọc những bài thơ tình cô ấy viết, những vần thơ khi thì bay bổng dịu dàng, khi sổi nổi cuồng si, khi buồn đến se lòng nhưng đều là nhịp đập của yêu thương, hướng đến vẻ đẹp trong tình yêu, tôi thì thầm một mình: “Yêu nhau nếu phải chia xa, ứng xử như hai nhân vật trong bài thơ  BẾN SÔNG XƯA của cô Hạt Cát thì cuộc đời đẹp đẽ biết bao”.  Tôi viết những dòng tản mạn suy nghĩ của mình về hai nhân vật trong bài thơ đó, ước cho những đôi tình nhân phải chia xa hôm nay, họ còn có thể gặp lại nhau ngày sau mà cùng mỉm cười khi nghĩ về kỉ niệm, hoặc sẽ gặp nhau hạnh phúc ở kiếp sau. 
     Ta có thể  thấy tình yêu dù chia xa nhưng vẫn đẹp qua nghệ thuật tả cảnh tinh tế thể hiện trong bài thơ BẾN SÔNG XƯA. Ở bốn câu thơ đầu với cách tả cảnh ngụ tình cho ta mường tượng có một người trai, lòng xao xuyến khi trở về bến sông của ngày xưa: “Sông xưa, bến cũ đây rồi”. Có phải vì cảnh vật nên thơ hay vì cảnh cũ gợi nhớ đến bóng hình xưa mà chàng thốt lên: 
“Sông Xưa, bến cũ đây rồi
Ai đem vệt nắng rắc ngoài thềm trưa?
Bướm hong vàng cánh dậu thưa
Hoa xoan tím gió đong đưa đầu cành”
      Qua một chữ “Ai” được Hạt Cát đặt rất tài tình trong khổ thơ tả cảnh giàu hình ảnh, sắc màu, ta thấy người trai ngày trở về nhìn cảnh vật thì nhớ đến một người. Nếu thử bỏ chữ “Ai” thay vào đó bằng chữ khác, sẽ  không còn thấy cái tình của người trở về bến cũ, mà chỉ là một khổ thơ tả cảnh đơn thuần.  Ở khổ thơ thứ hai chàng trai tự hỏi “Là duyên? là nợ? là tình?”  khi bồi hồi nhớ về kỉ niệm : 
“Giếng soi vành nón bóng mình bóng ta
Búp đa rụng đỏ gốc đa
Rễ si quấn quýt vài ba bốn vòng” 
       Các câu hỏi dồn dập, nội dung câu hỏi và cách tả cảnh nhằm để tượng trưng, chàng trai dạ bồi hồi nhớ người yêu cũ cùng kỉ niệm xưa mà chẳng cần nói đến hai chữ  “người yêu.  Bởi vì chỉ có trai gái yêu nhau thì mới có hình ảnh lòng giếng soi bóng một vành nón che mình và ta. Kỉ niệm cũ ùa về trong tâm trí chàng, ngày xưa ấy họ đã bên nhau thật lâu, thời gian đủ để:  “Búp đa rụng đỏ gốc đa”; và bên nhau thật gần “ Rễ si quấn quýt vài ba bốn vòng”. 
      Nhưng rồi thực tại đã kéo chàng ra khỏi hồi ức, người yêu của chàng không còn ở chốn cũ đợi chàng nữa, với vẻ ngoài bình thản chàng trai che giấu tấm tình bâng khuâng, nuối tiếc, được thể hiện trong cảnh vật của 4 câu thơ tiếp theo:
“ Cắm sào ngồi đợi nước trong
Cầu tre chênh chếch, bóng lồng trăng nghiêng
Âm thầm rêu níu mạn thuyền
Bến Xưa vẫn đấy, mà duyên đâu rồi?! 
        Bốn câu này là cao trào của cảm xúc nhớ nhung nhưng được kìm lại, bởi đây là một chàng trai có nội tâm mạnh mẽ, giữ vẻ ngoài điềm nhiên chàng lặng lẽ ngồi đợi ngày tàn dần, trăng lên trên bến sông : “Cắm sào ngồi đợi nước trong - Cầu tre chênh chếch, bóng lồng trăng nghiêng”.  Chẳng gặp lại được người yêu xưa, lòng chàng cô đơn, trống vắng nhưng chỉ là âm thầm thôi, trong tâm tưởng chàng biết rằng duyên phận đã hết:: “Âm thầm rêu níu mạn thuyền - Bến Xưa vẫn đấy, mà duyên đâu rồi?!” 
       Hai câu đầu của khổ thơ cuối bằng cách tả thực về thực tại hôm nay của 2 người đã từng yêu nhau:  “Em theo ai chuyến đò xuôi - Ngược sông, con nước lưng trời mình ta”. Theo thứ tự thời gian và cảnh vật của cả bài thơ, ta thấy chàng về thăm chốn cũ 1 ngày, khi biết được nàng không còn ở chốn cũ vì đã đi lấy chồng, với chí trai tung hoành chàng lại tiếp tục cất bước mạnh mẽ ra đi, lòng còn vương vấn hụt hẫng, bâng khuâng. Cảnh mây ngàn, nắng đổ chiều tà liêu xiêu đã nói hộ tâm trạng hụt hẫng của người trai lúc ra đi.  Đoạn kết buồn nhưng người trai không bi lụy cũng không oán trách:
Em theo ai chyến đò xuôi
Ngược sông con nước lưng trời mình ta
Mây ngàn quyện bóng nẻo xa
Bâng khuâng nắng đổ chiều tà liêu xiêu”
       Câu chuyện tình yêu như vậy trong cuộc sống rất phổ biến, bằng những vần thơ lục bát mộc mạc gần gũi, nhà thơ Hạt Cát đã vẽ nên một bức thi họa giao hòa sống động giữa cảnh vật và con người, trong đó tác giả dùng nghệ thuật tả cảnh ngụ tình, tả cảnh tượng trưng hay tả thực đều hài hòa, ý nhị, mang cảm xúc dạt dào đến cho người đọc. 

       Tình đến, tình ở lại hay tình chia xa, hãy giữ lại trong nhau những đẹp đẽ của kỉ niệm, những ngọt ngào của cảm xúc, những yêu thương vấn vương sâu thẳm trong tim mà cả hai đã cùng trải qua. Đó là thông điệp quý giá, mang tính giáo dục nhẹ nhàng, đậm đà vẻ đẹp nhân văn trong tình yêu mà tác giả Hạt Cát đã gửi gắm trong bài thơ BẾN SÔNG XƯA.

***
      Tôi có cái thú là giành thời gian để bay bổng cùng thơ của những nhà thơ mà tôi yêu thích, hoặc nghe những bài hát trữ tình của Ngô Thụy Miên, Trịnh Công Sơn. Cách đây hơn 4 năm, khi lang thang trên Yahoo 360Plus, tôi đã có một nhân duyên thú vị khi được đọc thơ Hạt Cát Diệu Sinh. Có những bài thơ của Hạt Cát cuốn hút bạn bè trên blog bởi nét cá tính của người bác sĩ quân y già làm thơ với một hồn thơ giàu cảm xúc, những tứ thơ độc đáo, ý thơ hàm súc, lời thơ tự nhiên phóng khoáng, nhưng không vì thế mà dễ dãi trong ngôn từ. Thơ Hạt Cát truyền cảm, khi thì dẫn dắt ta vào cái tình say đắm, nồng nàn của những cung bậc yêu thương; có khi dìu tâm hồn ta bay bổng trước thiên nhiên cảnh vật; có khi cùng ta xót xa, phẫn uất trước những cảnh chướng tai gai mắt trong xã hội; lại có khi cho ta cảm xúc bồi hồi lật giở những trang kỉ niệm sâu đậm của tình cảm gia đình, bạn bè, đồng đội,… Đặc biệt hơn nữa có những bài thơ mang tính giáo dục giá trị truyền thống và vẻ đẹp nhân văn trong tình cảm gia đình, tình yêu đôi lứa, cách đối nhân xử thế trước sóng gió cuộc đời…

BẾN SÔNG XƯA 
          Kính tặng tác giả BẾN SÔNG XƯA
                 Cụ  Bùi Hạnh Cẩn
                    “….Tôi có người chị họ
                               Nhà ở bến sông Xưa…”
Sông Xưa, bến cũ đây rồi
Ai đem vệt nắng rắc ngoài thềm trưa?
Bướm hong vàng cánh dậu thưa
Hoa xoan tím gió đong đưa đầu cành.
Là duyên? là nợ? là tình? 
Giếng soi vành nón bóng mình bóng ta
Búp đa rụng đỏ gốc đa
Rễ si quấn quýt vài ba bốn vòng
Cắm sào ngồi đợi nước trong
Cầu tre chênh chếch, bóng lồng trăng nghiêng
Âm thầm rêu níu mạn thuyền
Bến Xưa vẫn đấy, mà duyên lặn rồi?!
Em theo ai chuyến đò xuôi
Ngược sông, con nước lưng trời mình ta
Mây ngàn quyện bóng nẻo xa
Bâng khuâng nắng đổ chiều tà liêu xiêu.
        ■

         Thôn Vân Nam Định 20-03-2011 
;

Chủ Nhật, 23 tháng 4, 2017

Thứ Năm, 20 tháng 4, 2017

HỆ LUỴ



Tơi bở mối tơ
đời hệ luỵ
phù sa cuộn dòng xô bể
cửa sông tướp xơ.

Xộc xệch doi cát bờ
nước ào lấp liếm
dấu chân xiên
lưỡi sóng rát bước ai.

gió dai
nắng dài
 xuyên thấu nước
dòng trong mang mang ánh bạc.
...
xác xơ ai
ảo huyền ai 
tội nghiệp riêng chung.

Hat Cat Diệu Sinh
19/04/2017
;

Thứ Tư, 19 tháng 4, 2017

BỜ CÁT RÊU PHONG



mỏi rồi ngóng trông
mòn rồi chờ đợi
 phiêu du bơ bải.

Tình
bệt ngồi bờ cát rêu phong.

lòng rỗng không
dạ rỗng không
 khát giá đồng lều chợ
vét rượu men rớt hũ.

Tình
bệt ngồi bờ cát rêu phong.

thôi! 
xong.
Ta về cửa thiền buông gió
ta về chốn mây gài cửa

Hoang vu người
hoang vu đời
trả đủ.

Tình
bệt ngồi  bờ cát rêu phong. 

Hat Cat 19/04/2017
;

Thứ Ba, 18 tháng 4, 2017

NGÀN NĂM ƠI!...


;

CẢM NGHĨ của ORCHID KHI ĐỌC BÀI THƠ “NÕN NÀ ƠI” của Hat Cat Diệu Sinh


        Tình yêu đôi lứa là
 đề tài phổ biến trong thơ, hầu như nhà thơ nào cũng có làm thơ về chủ đề này. Thơ giúp con người diễn tả mọi cảm xúc trong yêu đương như nhớ thương, đợi chờ hò hẹn, hờn dỗi, hạnh phúc, khổ đau, chia ly… nhưng cảm xúc của những phút thăng hoa trong tình yêu vợ chồng thì rất ít nhà thơ chạm tới, bởi đó là một chủ đề khó. Cái khó ở chỗ người ta thường định kiến về chuyện chăn gối là thô, là tục, là thấp kém, là cần che đậy dấu diếm,… Vậy mà nhà thơ Hạt Cát đã làm thơ về chủ đề ấy, bài NÕN NÀ ƠI vượt qua được định kiến khi nói về cái tình chăn gối vợ chồng, mang đến cho ta những ý thơ đẹp đẽ chân thực và đầy chất thi ca.

       Vào một buổi sáng lang thang Facebook trong khi đợi đến tiết dạy, tôi đọc bài thơ NÕN NÀ ƠI của Hạt Cát và cảm thấy rất thú vị.  Hôm nay ngày hè rảnh rỗi, tôi chia sẻ điều thú vị đó cùng các bạn. Trước hết giới thiệu với các bạn nội dung bài thơ NÕN NÀ ƠI (Xem ở link: https://www.facebook.com/hat.cat.92/posts/626099877525140?comment_id=626596477475480&notif_t=like)
        Ở khổ thơ đầu:  “Nõn nà là nõn nà ơi!
                                   Khuya đêm ai hứng sương lơi búp trà?
                                   Khum tay nhẹ vợt hương hoa
                                   Trái là mật ngọt, phải là nhuỵ thơm.
                                   Khẽ khàng xuân ấp nụ hôn
                                   Nồng nàn xuân riết vòng ôm nồng nàn.
        Tác giả chẳng nói đến một nhân vật nào, tuy nhiên chỉ qua câu cảm thán, nhẹ nhàng như hơi thở “Nõn nà là nõn nà ơi!”, liền sau đó là câu hỏi dịu dàng: “Khuya đêm ai hứng sương lơi búp trà?” ta thấy có hai người nam nữ đang yêu, rất dịu dàng thì thầm cùng nhau. Trong khung cảnh khuya đêm, sương rơi nhẹ trên búp hoa trà tỏa hương thanh khiết, hai người yêu nhau đến bên nhau thật là tự nhiên, trao cho nhau những nồng nàn, dịu ngọt của tình yêu: “Khẽ khàng xuân ấp nụ hôn - Nồng nàn xuân riết vòng ôm nồng nàn”. Lối ẩn dụ tu từ trong hai câu này thật đặc sắc, rõ ràng chẳng phải mùa xuân đang “khẽ khàng hôn” và “nồng nàn ôm” một ai, hiểu như thế ta thấy ngay sự vô lí. Ở đây từ “xuân” là chỉ hai người yêu bên nhau, tình yêu đã làm cho họ thành mùa xuân của nhau trong đêm yêu. Cỏ cây dâng hương thơm vị ngọt cho đêm tình yêu, hay tình yêu của họ mang hương thơm vị ngọt cho cỏ cây thì không thể phân biệt được nữa, chỉ còn lại: “nồng nàn xuân riết vòng ôm nồng nàn”.
       Hai câu thơ tiếp theo là lời thủ thỉ trao gửi yêu đương, tâm tình nhớ thương của người nam nói với người nữ:
                                 “Mùa tàn. Tình vẫn chửa tàn
                                 Mộng mơ xuân vẫn bàn hoàn bóng ai”
      Tác giả đã rất khéo léo khi diễn tả sự tinh tế của người phụ nữ ở chỗ nàng đền đáp lại tâm tình của chàng trai không bằng lời nói, mà bằng dáng vẻ yêu kiều, quyến rũ, trẻ trung, gợi tình: 
                                  “Mịn mềm buông lọn tóc mai
                                  Mọng xuân yếm thắm hoa cài tuyết lê”
      Trong bốn câu trên, cũng vẫn với biện pháp ẩn dụ tác giả dùng từ “xuân” lúc là chàng, lúc lại là nàng rất tài tình. Tác giả cho nhân vật nam dùng từ “xuân” để xưng hô với người yêu: “Mùa tàn. Tình vẫn chửa tàn. Mộng mơ xuân vẫn bàn hoàn bóng ai”nghĩa là chàng nói với nàng: “ngày tháng trôi qua anh vẫn hoài yêu và nhớ em”, còn câu: “Mọng xuân yếm thắm hoa cài tuyết lê” thì đích thị là cử chỉ dáng diệu của nàng, không thể lẫn lộn.
      Tác giả diễn tả cuộc yêu đương mê đắm, cuồng si chỉ có hai người biết:
                                  Nụ yêu đắm đuối đê mê
                                 Chốn đào nguyên má môi kề má môi! 
                                  Yêu cho lật đất, sụt giời
                                 Cho tương tư rối bời bời áo khăn.
      Bằng lời thơ tự nhiên phóng khoáng, tả thực nhưng không thô bởi cách dùng từ độc đáo, biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng tinh tế, những “nụ yêu”, “má môi kề má môi”, hoặc cho đến đỉnh cao của các cung bậc cảm xúc yêu đương: “ Yêu cho lật đất, sụt giời, Cho tương tư rối bời bời áo khăn”, làm cho người đọc sẽ liên tưởng chuyện gối chăn, tác giả tả rất thật nhưng vẫn cứ tự nhiên, cứ đẹp đẽ ngời ngời vẻ đẹp phồn sinh mà tạo hóa đã đem đến cho cuộc sống lứa đôi. Hạt Cát đã rất tài tình viết những vần thơ vượt qua được định kiến mà người đời vẫn thường nhìn nhận về cuộc yêu là thú vui xác thịt, là thô tục. Hạt Cát phải có tài thơ thiên phú mới xử lí được tình huống này hay đến vậy, vẻ đẹp phồn thực được khắc họa thanh thoát bởi ngôn từ đặc sắc, nâng cánh cho cảm xúc thăng hoa đến vậy. Đọc thơ Hạt Cát tả vợ chồng chăn gối, tôi bất giác nhớ đến nữ thi nhân Hồ Xuân Hương, bà cũng có những tuyệt bút khiến người đọc liên tưởng đến vẻ đẹp phồn thực của Thiếu nữ ngủ ngày: “Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm. Một lạch đào nguyên suối chửa thông”.
    Người ta thường nói đến vẻ đẹp trong quan hệ tình cảm là: “ sống có tình, có nghĩa”.  Sau khi “yêu cho lật đất, sụt giời”, hai người nam nữ đã nghĩ gì về nhau, ta hãy đọc tiếp bốn câu thơ tiếp theo để thấy nét đẹp nhân văn trong đoạn kết. Ân tình hẹn thề thủy chung họ giành cho nhau, hứa hẹn mở ra cái kết có hậu, tình nghĩa bền lâu : 
                                        Là duyên là nợ vạn năm,
                                        Là tơ vương rút ruột tằm chuốt tơ.
                                        Là xưa đợi, là mai chờ...
                                        Là muôn kiếp dệt áng thơ tặng tình.
     Dư vị của cuộc yêu còn theo mãi trong kí ức:
                                      Nõn nà dáng, nõn nà hình
                                      Xuân tình trong vắt ngọt lành hương mây
                                      Nõn nà tỉnh, nõn nà say 
                                     Vòng tay bỏng rát vòng tay lửa bồng.
                                      Khát khao tình ém đáy lòng...
                                      Nõn nà nhé! 
                                      Đợi tương phùng một mai!
     Một điều độc đáo phải nói đến trong bài thơ là tác giả cho người nam gọi người nữ bằng từ NÕN NÀ, như người ta hay gọi người yêu âu yếm là “mèo con”, “honey”….. Ta hãy tìm hiểu về “nõn nà” trong dân gian Việt Nam. Tôi đã đọc được bài “Nõ (nõn) nường _ An Chi (KTNN 224, ngày 10-10-1996)” – link http://tunguyenhoc.blogspot.com/2012/01/no-non-nuong-chi-ktnn-224-ngay-10-10.html, xin trích nội dung sau “Trong tiếng Việt, âm xưa của noãn là nõn. Nghĩa gốc của từ này trong tiếng Việt có xê dịch một tí so với nghĩa của nguyên từ trong tiếng Hán; nõn là dương vật như đã được ghi nhận trong Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, tại mục “nõn nường”: “Từ chỉ vật làm bằng gỗ, tượng trưng cho dương vật (nõn) và âm hộ (nường) do nhân dân ở miền Dị-nậu và Khúc-lạc (Phú-thọ) xưa làm ra để rước thần; khi rước, những người khiêng kiệu vừa đi vừa hát: Ba mươi sáu cái nõn nường, Cái để đầu giường cái để đầu tay. Khi kiệu đến chỗ thờ thần, người ta tung nõn và nường cho mọi người cướp; con trai cướp được nường, con gái cướp được nõn là điềm tốt”.  Do vậy khi ghép chung thành NÕN NÀ để gọi người yêu trong cuộc yêu thì thật là thông minh, gợi tình, quyến rũ.
     Đọc đến đây ta cảm nhận được một tứ thơ độc đáo: hai người nam nữ trao gửi yêu thương, cả hai cùng toát lên vẻ nồng nàn dâng hiến, mỗi giới một vẻ, tuy hai mà một, tuy một mà hai, người nam chủ động, người nữ giấu vẻ quyến rũ trong cái e lệ kín đáo. Đó là VẺ ĐẸP XƯA trong thể hiện tình yêu trai gái của người Việt ta, đặc biệt là ở người nữ, nàng yêu đó, thương đó, say đắm đó, mà lại e ấp thẹn thùng, vẻ quyến rũ rất đàn bà Việt Nam. Bài thơ viết bằng thể thơ lục bát gần gũi, nhịp thơ linh hoạt để diễn tả tình cảm phù hợp với phát triển tâm lí tình cảm nhân vật, khi  chậm rãi theo nhịp 2-2-2: “Khuya đêm/ ai hứng/ sương lơi/ búp trà?. Khum tay/  nhẹ vợt/ hương hoa. Trái là/  mật ngọt, phải là/ nhuỵ thơm”; lúc nhanh câu 6 chữ nhịp 2-4, câu tám chữ nhịp 2-2-4: “Mùa tàn/ Tình vẫn chửa tàn; Mộng mơ/  xuân vẫn/  bàn hoàn bóng ai”; hoặc “Mịn mềm/  buông lọn tóc mai; Mọng xuân/  yếm thắm/ hoa cài tuyết lê”….
       Ngoài nghệ thuật dùng ngôn ngữ rất tài tình trong thơ tình của Hạt Cát như đã minh họa qua 2 bài thơ “Bến song xưa” và “Nõn nà ơi”, ta có thể thấy Hạt Cát đã cho nhân vật trữ tình trong thơ của mình dù chia xa hay mãi bên nhau đều hướng tới tính nhân văn, chan chứa tình người.


Tác giả Đỗ Thị Xuân Lan ( Lúa Bông ) gửi bài

NÕN NÀ ƠI

Nõn nà là nõn nà ơi!|
Khuya đêm ai hứng sương lơi búp trà?
Khum tay nhẹ vợt hương hoa
Trái là mật ngọt, phải là nhuỵ thơm.
Khẽ khàng xuân ấp nụ hôn
Nồng nàn xuân riết vòng ôm nồng nàn.
Mùa tàn. Tình vẫn chửa tàn 
Mộng mơ xuân vẫn bàn hoàn bóng ai
Mịn mềm buông lọn tóc mai
Mọng xuân yếm thắm hoa cài tuyết lê.
Nụ yêu đắm đuối đê mê
Chốn đào nguyên má môi kề má môi! 
Yêu cho lật đất, sụt giời 
Cho tương tư rối bời bời áo khăn. 
Là duyên là nợ vạn năm
Là tơ vương rút ruột tằm chuốt tơ
Là xưa đợi, là mai chờ
Là muôn kiếp dệt áng thơ tặng tình. 

Nõn nà dáng, nõn nà hình
Xuân tình trong vắt ngọt lành hương mây
Nõn nà tỉnh, nõn nà say 
Vòng tay bỏng rát vòng tay lửa bồng.
Khát khao tình ém đáy lòng
..Nõn nà nhé!
Đợi tương phùng một mai!


;