Thứ Bảy, 10 tháng 5, 2014

Thực chất bức thư năm 1958 của TTg Phạm Văn Đồng


Thực chất bức thư năm 1958
của TTg Phạm Văn Đồng



Ngày 4/9/1958, Thủ tướng Trung Quốc Chu Ân Lai đã công khai tuyên bố với quốc tế quyết định của Chính phủ Trung Quốc về hải phận 12 hải lý kể từ đất liền của Trung Quốc và các đảo ngoài khơi, bao gồm cả quần đảo Tây Sa và Nam Sa (tức quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam). 
Sau đó, ngày 14/9/1958, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Phạm Văn Đồng gửi bức thư cho Thủ tướng Chu Ân Lai, nguyên văn như sau: 


"Thưa Đồng chí Tổng lý,
Chúng tôi xin trân trọng báo tin để Đồng chí Tổng lý rõ: Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành bản tuyên bố ngày 4 tháng 9 năm 1958 của Chính phủ nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa quyết định về hải phận của Trung Quốc.
Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa tôn trọng quyết định ấy và sẽ chỉ thị cho các cơ quan Nhà nước có trách nhiệm triệt để tôn trọng hải phận 12 hải lý của Trung Quốc trong mọi quan hệ với nước Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa trên mặt biển. Chúng tôi xin kính gửi Đồng chí Tổng lý lời chào rất trân trọng”.


Nhìn lại bối cảnh năm 1958, Việt Nam mới qua cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp. Đất nước còn nghèo, lại bị Mỹ chà đạp Hiệp định Genève 20-7-1954, dựng lên chính quyền bù nhìn tay sai Ngô Đình Diệm  để thực hiện âm mưu xây dựng chế độ thực dân kiểu mới ở miền Nam. Trước đó, ngày 26/5/1950, chiến tranh Triều Tiên bùng nổ, Tổng thống Hoa Kỳ Harry S. Truman đã ra lệnh cho Hạm đội 7 tiến sát vào eo biển Đài Loan, ngăn chặn cuộc tấn công của Trung Quốc nhắm vào các đảo trên eo biển Đài Loan. Với hành động này, Mỹ đã thực sự ra tay bảo hộ chính quyền Đài Loan, mặc cho Trung Quốc kịch liệt lên án. 
Ngày 12/9/1954, Chủ tịch Hội đồng Liên quân Hoa Kỳ đưa ra phương án tấn công Trung Quốc bằng vũ khí nguyên tử nhưng Tổng thống Eisenhower đã do dự việc sử dụng vũ khí nguyên tử cũng như sự can dự của quân đội Hoa Kỳ vào cuộc chiến với Trung Quốc . 
Năm 1958, tiếp tục xảy ra cuộc khủng hoảng trên eo biển Đài Loan lần thứ hai. Ngày 23/8/1958 Trung Quốc đột ngột tăng cường việc nã pháo vào đảo Kim Môn. Theo Hiệp định Phòng thủ tương hỗ giữa Đài Loan-Hoa Kỳ, Tổng thống Eisenhower đã ra lệnh cho tàu chiến Hoa Kỳ đến bảo vệ đường tiếp tế hậu cần từ đảo Đài Loan đến 2 đảo tiền tiêu Kim Môn và Mã Tổ.

 Thủ tướng Phạm Văn Đồng và Tổng lý Chu Ân Lai và ngoại trưởng Nga Andrei Gromyko cùng đến Genève dự hội nghị

Ngoài bối cảnh "phức tạp và cấp bách” đối với Trung Quốc như đã nêu trên, theo Thạc sĩ Hoàng Việt (Quỹ Nghiên cứu Biển Đông), "Công hàm 1958" của Thủ tướng Phạm Văn Đồng ra đời trong bối cảnh quan hệ đặc thù Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Trung Quốc lúc đó đang  "vừa là đồng chí vừa là anh em”. Thực chất chính phủ Hà Nội lúc đó nêu quan điểm ủng hộ tuyên bố lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc là muốn cho Hạm đội 7 của Mỹ tôn trọng vùng biển như tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc mà không gây hấn trên vùng biển vịnh Bắc bộ, nhằm tránh sự xung đột, tranh chấp phức tạp để VN yên tâm bảo vệ nền hòa bình mới được lập lại trên miền Bắc và xây dựng cuộc sống mới.
Về vấn đề này, ngày 24-1-2008 phóng viên đài BBC (Tiếng Việt) đã phỏng vẫn Tiến sĩ Balazs Szalontai, một nhà nghiên cứu về châu Á đang sống ở Hungary. Theo Tiến sĩ Balazs Szalontai: Trong các năm 1955-1958, ban lãnh đạo Bắc Việt chưa đạt tới mục tiêu thống nhất đất nước vì phải đối phó với khó khăn nội bộ và thiếu ủng hộ của quốc tế. Đồng minh chính của họ lúc này là Trung Quốc. Trong hoàn cảnh này, Hà Nội không thể hy vọng xác lập quyền kiểm soát đối với Hoàng Sa và Trường Sa trong tương lai gần, và vì vậy họ không thể có sự bất đồng lớn với Trung Quốc về các hòn đảo. Lúc này, chính phủ Bắc Việt tìm cách có được giúp đỡ của Trung Quốc, và họ chỉ cố gắng tránh đưa ra tuyên bố công khai ủng hộ những tuyên bố chủ quyền cụ thể của Trung Quốc hay ký vào một văn kiện bắt buộc mà sẽ công khai từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với các đảo này. Cái mà  Trung Quốc gọi là “công hàm” thực chất chỉ là một lá thư ngắn, mà ông Phạm Văn Đồng gửi cho cá nhân Thủ tướng Chu Ân Lai, gọi thân mật, hữu nghị là “Đồng chí Tổng lý”, hoàn toàn không phải là Tuyên bố của nhà nước Việt Nam dân chủ Cộng hòa..
Sang năm 1974, tình hình hoàn toàn khác. Việc thống nhất Việt Nam không còn là khả năng xa vời. Giả sử Trung Quốc không can thiệp, Hà Nội có thể dễ dàng lấy các đảo cùng với phần còn lại của miền Nam. Từ 1968 đến 1974, quan hệ Việt - Trung đã xuống rất thấp, trong khi Liên Xô tăng cường ủng hộ cho miền Bắc. Trong tình hình đó, quan điểm của Bắc Việt dĩ nhiên trở nên cứng cỏi hơn trước Trung Quốc so với thập niên 1950.
Vì những lý do tương tự, thái độ của Trung Quốc cũng trở nên cứng rắn hơn. Đến năm 1974, Bắc Kinh không còn hy vọng Hà Nội sẽ theo họ để chống Moscow. Thực sự vào cuối 1973 và đầu 1974, Liên Xô lại cảm thấy sự hòa hoãn Mỹ - Trung đã không đem lại kết quả như người ta nghĩ. Washington không từ bỏ quan hệ ngoại giao với Đài Loan cũng không bỏ đi ý định tìm kiếm hòa hoãn với Liên Xô. Ngược lại, quan hệ Xô - Mỹ lại tiến triển tốt. Vì thế trong năm 1974, lãnh đạo Trung Quốc lại một lần nữa cảm thấy bị bao vây. Vì vậy họ muốn cải thiện vị trí chiến lược ở Đông Nam Á bằng hành động chiếm Hoàng Sa, và tăng cường ủng hộ cho Khmer Đỏ và du kích cộng sản ở Miến Điện. Nếu Trung Quốc khẳng định Hoàng Sa và Trường Sa thuộc chủ quyền lãnh thổ của họ thì suốt thập kỷ 60 họ đã đánh chiếm hai quần đảo này, không để cho quân đội VNCH chiếm giữ. Nhưng TQ đã không đả động gì. Năm 1973 Mỹ rút khỏi miền Nam VN, Trung quốc mới ra chiếm đảo Hoàng Sa vào ngày 19 -1-1974, nhưng cũng chưa dám đụng đến Trường Sa, có lẽ còn sợ Mỹ quay lại…

Có thể nói "Công hàm" 1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng xuất phát từ mối quan hệ rất đặc thù với Trung Quốc trong thời điểm Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đang rất cần tranh thủ sự ủng hộ và giúp đỡ của các quốc gia trong khối xã hội chủ nghĩa lúc bấy giờ và là một cử chỉ ngoại giao thân thiện thể hiện quan điểm ủng hộ của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong việc tôn trọng lãnh hải 12 hải lý của Trung Quốc trong bối cảnh vấn đề chủ quyền lãnh hải đang được tranh luận rất sôi nổi trên các diễn đàn quốc tế và trước các diễn biến quân sự phức tạp trên eo biển Đài Loan như đã đề cập ở trên. 
Điều này cho thấy quan hệ đặc thù của hai nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa – Trung Quốc lúc bấy giờ. Do vậy, trong tình hình bán đảo Đài Loan đang đứng trước nguy cơ bị tách rời, độc lập với lãnh thổ Trung Quốc , cuộc khủng hoảng eo biển Đài Loan lần thứ hai khiến Hải quân Hoa Kỳ phái tàu chiến đến can thiệp. Để đối phó với những động thái đang gây sức ép về quân sự và ngoại giao, Trung Quốc đã vội vã ra tuyên bố về lãnh hải trước hết nhằm khẳng định chủ quyền trên biển của Trung Quốc trong tình thế bị đe dọa tại eo biển Đài Loan. 
Trong tình thế này, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đưa ra lời ủng hộ Trung Quốc trong hoàn cảnh hết sức khẩn trương, chiến tranh chuẩn bị leo thang, Hạm đội 7 của Mỹ đang tiến vào eo biển Đài Loan, đe dọa Trung Quốc mà trực tiếp là Vịnh Bắc bộ của Việt Nam. Như chúng ta thấy nội dung "Công hàm 1958"(theo chúng tôi đây thực ra là một bức thư riêng  gửi đồng chí Tổng Lý  không viết theo văn phong của một "công hàm ngoại giao"--Note Verbale--mà chúng ta thường thấy) của Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng đã được thể hiện một cách thận trọng, đặc biệt là không hề có bao hàm nội dung tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa như phía Trung Quốc bóp méo và xuyên tạc. Bởi, hơn ai hết, chính Thủ tướng Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ( và cả Chu Ân Lai lẫn bất cứ lãnh đạo một nhà nước nào khác) cũng thấu hiểu quyền tuyên bố về chủ quyền lãnh thổ quốc gia thuộc thẩm quyền cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất là Quốc hội, và việc bảo vệ tòan vẹn, thống nhất lãnh thổ quốc gia luôn luôn là mục tiêu và cũng là trách nhiệm hàng đầu đối với Nhà nước và nhân dân Việt Nam nhất quán từ thời kháng Pháp đến giai đoạn chống Mỹ sau này. Đây cũng là một nguyên tắc bất di bất dịch của mọi quốc gia độc lập, có chủ quyền trên thế giới.
Xin nhắc lại là "Công hàm" của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không hề đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa, cũng như không có một dòng chữ nào thừa nhận Hoàng Sa và Trường Sa thuộc lãnh hải Trung Quốc! Hơn thế nữa, đây mới chỉ là văn bản mang tính chất liên lạc thân tình giữa hai thủ tướng , chưa phải là văn bản pháp luật của một quốc gia để cường điệu như một số người cố tình hiểu sai theo luận điệu của bá quyền Trung Quốc. Đọc kỹ, chúng ta thấy "Công hàm" 1958 có hai nội dung rất rõ rệt: Một là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ghi nhận và tán thành việc Trung Quốc mở rộng lãnh hải ra 12 hải lý; Hai là, Chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa chỉ thị cho các cơ quan nhà nước tôn trọng giới hạn lãnh hải 12 hải lý mà Trung Quốc tuyên bố. 
Mặt khác, sở dĩ trong "Công hàm" 1958, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã không đề cập đến hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa vì điều đó là không cần thiết, bởi theo Hiệp định Genève 1954, hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa nằm phía Nam vĩ tuyến 17 tạm thời thuộc quyền quản lý của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa. 
Nếu chỉ xét về câu chữ trong một văn bản có tính chất ngoại giao đi nữa thì cũng dễ dàng nhận thấy mọi suy diễn cho rằng “Công hàm 1958” đã tuyên bố từ bỏ chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa và coi đó là bằng chứng khẳng định Việt Nam đã thừa nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này là xuyên tạc lịch sử và hoàn toàn không có cơ sở pháp lý. Do vậy, phần tuyên bố về chủ quyền của Trung Quốc liên quan tới hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam trong bản tuyên bố ngày 4/9/1958 về cơ sở pháp lý quốc tế đương nhiên được xem là không có hiệu lực. 
Tại Hội nghị San Francisco 1951, các quốc gia tham dự đã bác bỏ yêu sách về chủ quyền của Trung Quốc trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Cũng tại hội nghị này, đại diện cho Việt Nam là ông Trần Văn Hữu đã long trọng tuyên bố chủ quyền lâu đời và liên tục của mình trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong phiên họp toàn thể mà không có bất kỳ sự phản đối hay ý kiến gì khác của tất cả các quốc gia tham dự. Nói khác đi điều này có nghĩa là kể từ năm 1951, cộng động quốc tế đã thừa nhận chủ quyền lịch sử và pháp lý của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Sau khi tiếp quản sau chiến thắng 30/4/1975 cho đến ngày nay, Việt Nam  tiếp tục gìn giữ chủ quyền không thể chối cãi với 2 quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
Như đã nói ở trên, năm 1956, Liên Hợp Quốc bắt đầu tiến hành các hội nghị quốc tế bàn về Luật Biển, sau đó một số hiệp định được ký kết vào năm 1958, tuy nhiên vẫn chưa làm thỏa mãn yêu sách về lãnh hải của một số quốc gia. 
Trong khi đó, ở miền Nam Chính quyền Việt Nam Cộng hòa được Mỹ bảo trợ, theo Hiệp định Genève 1954, đã liên tục thực thi chủ quyền của người Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa bằng các văn bản hành chính nhà nước cũng như bằng việc triển khai thực thi các quyền chủ quyền thực tế trên hai quần đảo.  Trong suốt thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước của Việt Nam, Trung Quốc vẫn nghiễm nhiên công nhận việc bảo vệ chủ quyền của lực lượng hải quân Việt Nam Cộng hòa, mà không có ý kiến gì. Lý do dễ hiểu là TQ rất ngán Mỹ thọc tay vào vấn đề này, phần khác là TQ cũng tự thấy không đủ căn cứ pháp lý để tranh giành chủ quyền với chính quyền miền Nam. Thỏa hiệp với chính quyền Nixon để bình thường hóa quan hệ Trung-Mỹ vào năm 1972 TQ không còn ai để phải sợ, xoay sang “bắt nạt” Việt Nam để tranh giành chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa. Đỉnh cao của sự khẳng định chủ quyền Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa trong giai đoạn này là trận hải chiến quyết liệt của Hải quân Việt Nam Cộng hòa chống lại sự xâm lược của tàu chiến và máy bay Trung Quốc tại quần đảo Hoàng Sa năm 1974.

Tuần dương hạm Lý Thường Kiệt trong trận hải chiến Hoàng Sa 1974


Một bức thư mà Trung Quốc gọi là "công hàm"(chứ không phải là hiệp định được quốc hội mỗi nước phê chuẩn)  thời bấy giờ vỏn vẹn chỉ có 127 chữ, thế mà gần đây Trung Quốc luôn lấy ra rêu rao cái gọi là VN đã thừa nhận chủ quyền "không thể tranh cãi" của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Có thể nói, giải thích xuyên tạc "Công hàm 1958" là một trong chuỗi  hành động có tính toán nhằm tạo cớ, từng bước hợp thức hóa yêu sách chủ quyền phi lý của họ đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam.
Tóm lại việc Trung Quốc diễn giải nội dung "Công hàm" ngày 14/9/1958 của Thủ tướng Phạm Văn Đồng và xuyên tạc nội dung, ý nghĩa của bản Công hàm đó như là một chứng cứ cho thấy Việt Nam đã công nhận chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hết sức chủ quan và thể hiện rõ dã tâm xâm lấn Biển Đông, hoàn toàn xa lạ với nền tảng pháp lý của Việt Nam cũng như luật pháp quốc tế, bất chấp thực tế khách quan của bối cảnh lịch sử đương thời, không thể xem là văn bản pháp lý để đưa ra tranh chấp chủ quyền trên Biển Đông. 
Sắp tới, ban hành Luật Biển Việt Nam theo biểu quyết thông qua của 99,2% số phiếu tán thành tại Kỳ họp thứ 3 (Quốc hội khóa XIII), ngày 21/6 mới là văn bản pháp lý chính thức của nước Việt nam về chủ quyền biển-đảo. Luật Biển của VN lần này sẽ thực sự chấm dứt mối nghi ngờ và đưa ra lắm ý kiến nhũng nhiễu về "công hàm" chỉ có tính chất liên hệ giữa hai người "đồng chí" thời bấy giờ, phù hợp với ứng phó tình huống thời cuộc vô cùng tế nhị của Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1958. 
Những tuyên bố đơn phương về chủ quyền của Trung Quốc đối với hai quần đảo này theo luật pháp quốc tế là vô hiệu. Hiệp định Genève 1954, mà Trung Quốc là một nước tham gia chính thức, cũng thừa nhận chủ quyền hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa thuộc về quản lý của chính phủ ở miền Nam. Nên nhớ rằng các điều khoản trong Hiệp định cũng yêu cầu các quốc gia tham dự Hội nghị cam kết tôn trọng chủ quyền độc lập, nền thống nhất quốc gia và sự toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam. 
Nói tóm lại, Luật Biển mà Việt Nam sắp ban hành để thực thi cũng dựa trên những giá trị các chứng cứ lịch sử đó và hoàn toàn phù hợp với Công pháp Quốc tế về Luật biển năm 1982 và chủ trương nhất quán của nhà nước VN, không có gì để chỉ trích gay gắt như người phát ngôn Bộ Ngoại Giao TQ lớn tiếng trong buổi họp báo hôm qua.

Bùi Văn Bồng
              6/2012

Thứ Sáu, 9 tháng 5, 2014

GẠC MA ƠI

Máy bay, tàu Trung Quốc uy hiếp tàu Việt Nam

Trung Quốc điều 80 tàu với sự yểm trợ của máy bay đã tấn công, đâm rách tàu cảnh sát biển Việt Nam tại vùng giàn khoan đang đặt hạ trái phép trên thềm lục địa Việt Nam. Đã có 6 người phía Việt Nam bị
thương.
tau-4457-1399478114.jpg
(VTC News)  25 năm trước, ngày 14/3/1988, 64 người con đất Việt đã ngã xuống biển Đông trước họng súng quân xâm lược Trung Quốc.
....Trong tích tắc, tất cả nhuốm màu đỏ rực. Máu đồng đội, lửa đạn bùng lên trên tàu HQ604. Chiếc tàu rách tan lật úp rồi chìm nhanh...
Sau trận chiến bảo vệ đảo Gạc Ma ngày 14/3/1988 lịch sử, 64 cán bộ chiến sĩ Hải quân ta đã anh dũng hy sinh, 9 người bị Trung Quốc bắt giữ đưa về Quảng Đông. Từ năm 1988 đến nay, Trung Quốc đã xâm chiếm Gạc Ma. Việt Nam bảo vệ được Cô Lin và Len Đao....
Trận chiến Gạc Ma: Đọc lại những bài báo 25 năm trước
GẠC MA ƠI!

Gạc Ma ơi!
Đồng đội ơi!
Đất nước ơi!

Thứ Năm, 8 tháng 5, 2014

TỔ QUỐC TÔI


Tổ quốc tôi
         thân yêu như nếp nhăn trán Mẹ
         như vết chai dày bàn tay Cha.

Tổ quốc tôi
        ngổn ngang đường cày đất phèn chua mặn
        bối bừa mắc nặng vai trâu.
Tổ quốc tôi
        mùa lũ ào ào cuộn dòng sâu
        mùa cạn sông khô lòng nứt đáy

        mùa hạ gió Lào cánh đồngnắng cháy
        mùa đông xóm làng tê giá heo may...
Tổ quốc tôi
       Bốn ngàn năm rõng rã rạc thân gầy
       Những chàng trai khố một manh đi mở nước
       Những bàn chân Giao chỉ in dâu miền sơn cước
       nơi bờ biển mặn mòi
       những cánh đồng lúa xanh tít tắp chân trời
       những cánh rừng ngút ngàn cây lá....

Trăm anh em trai bạt rừng lấn bể
Chung lưng xây dựng nước non này

Tổ quốc tôi
       Giọng dân ca đắm say
      Con cò chập chững từ nôi ấm
      Con mèo khoanh tròn lim dim thảnh thơi phơi nắng
      Con chim gù
                khoảng trời bình yên

Tổ quốc tôi
       Bắc thuộc một ngàn năm
       Một ngàn năm kiên cường chí khí
       Một ngàn năm người Việt cứ ăn trầu môi đỏ
       Răng đàn bà Việt vẫn nhuộm đen, vẫn trông lúa nước, thổi cơm.
       Không con gái bó chân, không đàn ông bím tóc đuôi sam
      Vẫn nói tiếng của Cha Rồng, Mẹ Phượng

***
Tổ quốc tôi
"Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh"
Hai Bà Trưng khí phách sáng gương trong
Bà Triệu cưỡi voi oai hùng đuổi giặc Bắc phương
"Tự cổ huyết do hồng"*- Lẫy lừng Bạch Đằng bao chiến tích
"Nam quốc sơn hà" -Tiếng sấm vang rền Tuyên ngôn Lý Thường Kiệt
Hào khí Đông A lời hịch dậy non sông
Những súng đồng, những cọc gỗ, những bãi chông...
Còn in đậm Chi Lăng, Đống Đa, Vạn Kiếp!..

Một đất nước không cúi đầu trước quân thù xâm lược
Xương máu cha ông trộn lẫn núi sông này

Tổ quốc tôi xanh cỏ mượt cây
Nên không hết người đánh giặc**
Bao bà mẹ anh hùng: "Còn cái lai quần cũng đánh"
Bao người trai hy sinh tuổi mười tám, đôi mươi!

Quân thù kia!
Bay đến từ biển hay trời
Bằng tiền hay dọa nạt
Cũng không lay chuyển được lòng dân Việt

Tổ quốc VIỆT NAM
Là của dân lành chân chất
Với Trái tim hồng yêu tha thiết quê hương


____________________________________________
*" Đằng Giáng tự cổ huyết do hồng" Lời đáp của Giang Văn Minh khi đi sứ sang Trung Quốc
** Ý của Nguyễn Trung Trực " Bao giờ hết cỏ nước Nam thì Nước Nam mới hết người đánh Tây:
***
Lời người mẹ anh hùng thời chống Mỹ Út Tịch

VU VƠ NHỚ

Mưa hè giọt ngắn dài
Cành cao vương lá thấp
Heo may cơn tới tấp
Lùa mây vón góc giời.

Bời bời nỗi tơ vò
Bồn chồn nơi xa vắng
Đứng thương ai ức vạn
Ngồi nhớ ai muôn nghìn.


Thương bờ nước dập dềnh
Nhớ sóng chênh mép cỏ
Gom nợ duyên xa cũ
Ươm nghĩa tình non xanh

… Rẻ quạt xẻ vênh trăng
Tà dương xòe vạt ráng
Sao Hôm ngời ánh rạng
Ngoằn ngoèo soi lối đêm.

Mưa thánh thót ướt thềm
Gió ru khuya da diết 


Cồn cào nơi gan ruột
Nỗi nhớ người vu vơ…

Thứ Tư, 7 tháng 5, 2014

MẤY BÀI THƠ VỀ CHIẾN TRANH

 BÁU VẬT 

Giấy ca rô úa vàng
Dòng chữ xiên nguêch ngoạc
"hãy chờ anh"
không ngày không tháng
xé từ sổ tay
- thư lính chiến gấp hình tam giác
Báu vật một thời
*
Chiến tranh qua lâu rồi
Mảnh thư nát nhầu loang lổ 
tướp xơ hai vết xé
                        ở giữa 
                                  bốn mươi năm!
***************************************************************************



TÁI TÊ 


Đắng lòng nhìn bát đũa không
Bát đũa những người ra trận
Không về.
*
Mâm cơm 
Bữa nào cũng vậy 
mình Mẹ ngồi 
TÁI TỂ



****************************************************************************


3- MỘT LẦN CHUYỂN THƯƠNG


Người chiến sĩ ga-rô đùi
chân bầm tím tái
Y- tá loay hoay
nới ra, buộc lại...
Máu vẫn chảy hoài, chảy mãi... chứa chan...
Người chiến sĩ mê mạn
" Mẹ ơi! Nước!..."
đôi môi nứt khô tái nhợt
Mắt nhám nghiền, lử lả thều thào:
" Nước... Nước
...Mẹ ơi!"

Người y tá
Nước mắt tuôn trào
giọt giọt
... Rơi.
xuống đôi môi tái xanh
xuống đôi môi nứt nẻ
Người chiến sĩ 
nuốt
 từng giọt lệ
mặn mòi.


... Người chín sĩ ga rô đùi
bỗng thở hắt ra
khuôn mặt dần trắng bệch
bỏ lại đớn đau mệt nhọc
Không từ biệt 
Lặng lẽ 
ĐI VÀO NGÀN NĂM!

Người Y ta cúi thấp đầu
Lặng câm
Cắn vành môi 
Bật máu.

Thứ Ba, 6 tháng 5, 2014

HEO MAY CHIỀU KHÔNG MẸ



Heo may lạnh buốt chiều
Mây mù phong lối cửa
len lén gió
lui bui trốn giời mưa rớt nhẹ bàn tay.

BẢN CẦU HỒN CHO ĐIÊN BIÊN PHỦ

Bản cầu hồn cho Điện Biên Phủ
Nguyễn Anh Tuấn

Nhà hát Lớn thành phố một đêm đầu tháng 5 năm 1954.
     Khán giả chìm trong im lặng khi cây đũa của nhạc trưởng giơ lên, và âm thanh trầm buồn của dàn giao hưởng tấu bản Réquième (nhạc cầu hồn) làm nền cho tiếng hát của một cô ca sĩ. Rồi âm thanh đó tràn sang toàn bộ cảnh chồng hình những chiếc Dacota bay đen bầu trời và những cột khói lửa bốc lặng lẽ…
    Không hiểu sao, tôi bỗng nhớ đến cái trường đoạn đầy rung cảm và có lẽ là hay nhất trong bộ phim “Điện Biên Phủ” của đạo diễn người Pháp P. Schoendoerffer khi tôi vượt đèo Pha Đin…Tây Bắc đang mùa ban nở. Hoa ban làm bừng sáng các hẻm núi, vực sâu, những vạt đồi trơ trụi. Hoa ban trắng đến ngẩn ngơ - thứ hoa hút hồn cả tuổi trẻ của tôi trên vùng núi hiểm trở và khắc nghiệt này…
    Thật thú vị đến bất ngờ, tôi bắt gặp người đạo diễn của bộ phim đó ở ngay trong bảo tàng nằm giữa chiến trường xưa: hình ảnh người phóng viên mặt trận đang bị ngã cố bảo vệ chiếc máy quay, và có thể vẫn đang bấm máy. Phải chăng, khúc tưởng niệm về một cuộc chiến bi thảm đã dạo hoà âm mở đầu trong tâm hồn Schoendoerffer ngay từ cú bấm máy đặc biệt ấy?

    Trong bộ phim nói tiếng Pháp đã quen thuộc với khán giả Việt Nam từ gần hai mươi năm trước có nhân vật chàng phóng viên quay phim mặt trận - hình bóng của chính Schoendoerffer ngày nào (diễn viên đóng vai này là con trai đạo diễn), hình ảnh tiêu biểu của lớp thanh niên Pháp ngày ấy bị ném vào lò thiêu của một cuộc chiến mà chỉ những kẻ chủ mưu mới hiểu rõ mục đích! Còn phần lương tri của nước Pháp văn minh đã mang trọn khúc cầu hồn tưởng niệm lúc rải rác, lúc dồn dập, dần trở thành bản giao hưởng của nỗi dày vò khôn nguôi, để rồi phát triển thành chủ đề khát khao đối thoại trong tình hữu nghị qua hàng loạt diễn văn, đáp từ, cảm tưởng… của các chính khách, nhà quân sự, nghệ sĩ Pháp - đặc biệt là những sĩ quan binh lính Pháp từng tham gia chiến trường Điện Biên Phủ, như Pierre Le Roy, Rombu Laret, Pierre Rossion, Fabies Alain, Marie Véronique, v.v. Câu nói của ông cựu đại sứ Pháp Louis Amigues dường như có thể cô đúc tâm trạng của nhiều người Pháp: “Ne pas oublier, pour ne pas recommencer” (không bao giờ quên, để không bao giờ lặp lại).

    Trong một cuộc họp báo tại Paris, để trả lời phỏng vấn: “Ông tạo ra bản Réquième ở trong phim với dụng ý gì?”, người đạo diễn mỉm cười: “Xin quý vị hãy xem phim của tôi. Tôi đã làm cả một bộ phim chỉ để giải đáp mỗi câu hỏi đó". Để thực hiện một bộ phim tốn kém về lịch sử chiến tranh, Schoendoerffer đã phải huy động vốn liếng của nhiều người, trong số đó không ít là những cựu binh Điện Biên Phủ. Có hiểu cái guồng quay thương mại của điện ảnh phương Tây thì mới càng thấy trân trọng cảm phục Schoendoerffer khi ông làm ra một bộ phim chỉ cốt để góp phần giải toả “hội chứng Điện Biên Phủ” cho cả một thế hệ, trong đó có ông…

    Trên đường vào Mường Phăng, qua các làng bản đơn sơ nhưng yên bình của đồng bào dân tộc, tôi bỗng nghĩ đến những con người buộc phải rời xa ruộng đồng và người thân, buộc phải cầm súng từng nhẫn nại làm công việc chấm dứt “bản giao hưởng chiến tranh” kinh hoàng. Sau lưng họ là những thôn làng bốc lửa, những ngôi đình đổ sụp, những lũy tre cháy vàng vì bom napal…

    Không ai có thể quên cái cảnh bản Noong Nhai ở Điện Biên bị đốt phá. Những ngôi nhà sàn êm ấm cháy rừng rực, tiếng kêu khóc của đàn bà con trẻ lẫn tiếng rú gào của súc vật trong cơn hoảng loạn… Cho dù ngày hôm nay chúng ta đã quên đi hận thù, mở rộng cửa đón bè bạn bốn phương kể cả những người là cựu địch cũ tới VN, nhưng sự thật lịch sử đắng ngắt sẽ không bao giờ hoá thành thơm ngọt. Bản tưởng niệm của phía Việt Nam không có chương dành cho sự xuê xoa, xuý xoá, bợ đỡ, biến trái thành phải. Nhưng bản tưởng niệm đó lại có chương dành cho lòng nhân từ.

    Nếu ở thời Lê lợi - Nguyễn Trãi, những kẻ xâm lược bị bắt được cấp lương ăn ngựa cưỡi để trở về, thì ở thời đại Hồ Chí Minh, những người tù binh Pháp đã được sống trong danh dự dù là danh dự của người bại trận. Họ được hưởng chế độ tù binh theo công ước quốc tế, và hơn thế sự cảm thông của người lính cụ Hồ. Và chính điều đó đã làm cho bản tưởng niệm về sự đại bại của người Pháp bớt hẳn đi màu sắc bi thảm.

    Sáng tạo nghệ thuật của Schoendoerffer quả là độc đáo khi cho anh nhạc trưởng người Việt Nam và cô ca sĩ người Pháp cùng đứng trong dàn giao hưởng tấu lên khúc tưởng niệm, cầu hồn chung về Điện Biên Phủ. Ta hiểu vì sao, Schoendoerffer, từ đỉnh cao của khát vọng hoà đồng giữa những con người đã trầm tư trên cánh đồng chết chóc cũ: “Tôi tưởng nhớ đến những chiến hữu của chúng tôi và tôi tưởng nhớ đến những chiến hữu của các bạn”. Đó cũng là cảnh kết phim. Sự “tưởng niệm” chính là “chìa khoá” nghệ thuật, là cái “thần nhãn” của bộ phim hoành tráng này.

    Trên đồi Him Lam, thật tình cờ, có cả hai đoàn cựu binh Pháp và Việt Nam cùng thăm lại chiến trường cũ. Một cựu binh Pháp giở bản đồ, rồi chỉ ra các hướng. Một người khác bốc nắm đất cho vào túi giấy… Còn bên đoàn cựu binh Việt Nam ồ lên thích thú khi tìm thấy một chiếc mũ sắt đã hen gỉ. Có đôi ba người chống nạng vất vả. Rồi cả hai đoàn cựu binh gặp gỡ nhau trong lịch sự và niềm nở; thích thú truyền tay nhau chiếc mũ nát… Trong đoàn cựu binh Việt Nam, có một nữ ca sĩ lớn tuổi rơm rớm nước mắt, bà bất giác cất lên tiếng hát bài Ave Maria của Schubert. Không gian chỉ còn tiếng chim hót và tiếng gió thổi trên đồi cây… Phải, những bản tưởng niệm dù sâu sắc thành kính đến đâu cũng tới lúc cần nhường chỗ cho những bài ca của tình yêu và  mơ mộng, của khát vọng sáng tạo…
                                                                
Hà Nội - Tây Bắc, tháng 3/2013



Nguyễn Anh Tuấn
Ngày đăng: 05.05.2014
[ Trở lại ] [ Tiếp ]

Thứ Hai, 5 tháng 5, 2014

LỤC BÁT HÈ TRỞ GIÓ

1-MONG MANH
Mong manh duyên gió tình mây
Gửi xa xôi nhũng vơi đầy xa xôi
Chân mây đăm đắm cuối trời
Níu chơi vơi giữa chơi vơi bồng bềnh!

Thứ Bảy, 3 tháng 5, 2014

KHÚC NHỚ


Lòng nhắn nhủ là thôi đừng nhớ
Dạ thầm thì là chớ có thương
Sập chiều sẫm tím hoàng hôn
Lửng lơ gió nhịp cung đàn vời 
xa...  

HOA DẠ HỢP


(Hoa Dạ Hợp vườn nhà)


Trinh trắng kết từ đáy thẳm
Đất trời đằm lắng hồn hoa
Cánh hé nõn nà ngà ngọc
Hương tình mây gió ngàn xa... 





CỦ CẢI - vị thuốc thân quen


Cải củ, Rau lú bú - Raphanus sativus L., var. longipinnatus Bail., thuộc họ Cải - Brassicaceae.
Mô tả: Cây thảo sống hằng năm, có rễ củ trắng, có vị nồng cay, dài đến 40 cm (có thể đến 1m), dạng trụ tròn dài, chuỳ tròn hay cầu tròn. Lá chụm ở đất, có khía sâu gần đến gân chính. Chùm đứng; hoa trắng hay đỏ; 6 nhị; 4 dài, 2 ngắn. Quả cải hình trụ có mỏ dài, hơi eo giữa các hạt; hạt hình tròn dẹt, có một lưng khum, mặt bụng tạo nên 1 cạnh lồi ở giữa, dài 2,5-4mm, rộng 2-3mm, màu nâu đỏ hoặc màu đen.

Thứ Sáu, 2 tháng 5, 2014

THẾ RỒi THÔI


Càn - Khôn khép kín giữa chơi vơi
Cuối nẻo còn trơ lại mấy người
Rơi vãi tháng năm xa vắng bạn
Lụi tàn giây phút lẻ loi tôi
Đời như ráng tím bầm chiều tối 
Phận hệt tà huy nát cuối giời 
Muôn lẽ vô thường quy Bát Nhã
Sat - na lịm tắt… Thế rồi thôi!

KHÚC ĐÊM

( Nghĩ lung tung đêm không ngủ được
Viết lăng nhăng lít nhít mà buông)


Muốn xé tọac trời xanh cho hả
      Muốn thò tay quơ gió mà chơi
Ai ngờ vớ cuộng mùng tơi
Nhớt nhèo tơ vất vưởng ngoài dậu thưa.

Thứ Năm, 1 tháng 5, 2014

THẬT NGẮN VỀ TÁC DỤNG của CỦ CẢI



NƯỚC ÉP CỦ CẢI GIẢI ĐỘC TRONG bệnh Gout
Rất nhiều người hỏi Lang Vườn tôi một câu hỏi rất oái oăm:
“ Bị kiêng nhiều thứ thế thì… chán chết. Nếu thuốc của Bà Lang không chữa dứt điểm để cho chúng tôi ăn uống thoải mái như xưa thì… cũng chán chết.” “Vậy thì tìm cái gì đó xem… cho bọn này ăn uống tý chứ! “
Lang Vườn tôi đã lật lại những trò nghiên cứu vủa thừa kế vừa “Xé rào “ của mình, và cuối cùng vớ được một trang từ cách đây lâu lâu - khi tôi tìm hiểu về “Canh dưỡng sinh”, và đang theo dõi kết quả dùng " Canh dưỡng sinh"

Trong trang ghi chép có phần ghi khá tỷ mỉ về Củ cải. NƯỚC ÉP CỦ CẢI GIẢI ĐỘC cho bệnh nhân gout sau khi ăn uống thịnh soạn và uống rượu, bia . Nó có thể GIẢM CƠN ĐAU CẤP CỦA BÊNH GOUT

Mấy ông bạn là bác sĩ ( cả ông xã tôi ) rất hào hứng xung phong làm “ thỏ thí nghiệm”. Chả phải họ yêu quý hay tin tưởng gì tôi lắm đâu, mà là nếu sau khi họ “ liều chết” uống cái nước “Khỉ gió” của tôi mà kết quả tốt, thì họ có thể thỉnh thoảng vẫn được ăn uống thoải mái… hihi, lại được tiếng là “dám hy sinh thân mình vì bạn và vì khoa học”

Công thức:
Củ cải trắng: 200g, Lá cải củ 50g, xay rồi ép lấy nước uống ngay sau khi bạn đi ăn uống về… Chuẩn bị thêm vài lát Gừng.

Tôi có theo rõi 39 người bạn bị bệnh, thì có đến 21/ 39 người liều mình “ như chẳng có” dám uống nước củ cải vừa cay vừa đắng để vừa bị đi tiểu đêm… Và vừa có vẻ… đầy đầy bụng
Tôi bảo họ nếu đầy bụng thì nhai dập ba lát gừng sống rồi nuốt… xem chừng ổn cả.

Tất nhiên là tôi vẫn khuyên họ nên kiêng, song khi họ không kiêng được thì đây là CỨU CÁNH của họ…
Bạn bè tôi có 5, 6 người khỏi bệnh gần như hoàn toàn từ đó đến giờ không tái phát. Một phần vì đã uống thuốc đúng liều, kiêng cữ đúng cách… và  cũng một phần nhờ một trong những bài thuốc - mà khi thỉnh thoảng thăm hỏi nhau - mấy bạn bảo nhờ cái nước “ CỦ CẢI KHỈ GIÓ “ của tôi. ( tất nhiên là họ uống thường xuyên, nghiêm túc)

Bỗng thấy củ cải trắng chợ…
Tôi viết lại cho ai đó nhỡ có hôm nào vui miệng mà ăn mà uống … mà đa
u. Biêt đâu chả  giúp được gì đó.
Và ai đó , nếu chịu khó uống nước củ cải thì vừa đỡ phù nề, đỡ 
béo phì, đỡ viêm họng khan tiếng...
Cả nhà thử xem