Thứ Ba, ngày 22 tháng 7 năm 2014

ĐẠO BÙA



Ảo huyền ấp niệm đạo bùa

Trộn hôm nay lẫn muôn xưa... riêng mình.
Mênh mông bể ái, trời tình
" Nam Mô" khuôn trọn cõi linh gửi người

Thứ Hai, ngày 21 tháng 7 năm 2014

LẠI NÓI VỀ BÀI THƠ CON CÓC 1 của NT Nguyễn Nguyên Bảy

BÀI THƠ CON CÓC 1: THÂN PHẬN XÓT XA!


NNB: Dịch học là bể học, chắc chắn không một ai dám vỗ ngực cho là mình đã tinh thông dịch học, không cần cầu thị học hỏi. Tôi thành tâm đón nhận những trao đổi bằng hữu của khắp cùng bạn đọc quan tâm dịch, với nhà thơ nữ Hạt Cát không ngoại lệ. Hạt Cát tự cho mình là người mới nhập môn dịch học, nhưng qua trao đổi nhận thấy chị khá am tường dịch, kể cả việc chi dụng dịch học cảm thức thơ, thật là một cách đọc sâu sắc, quý hiếm. Trân trọng giới tiệu dưới đây, cảm thức của chi khi đọc Bài Thơ Con Cóc 1 của NNB. Mời cùng chia sẻ.
   ***********************************************************************
HAT CAT __ Lời thưa:  Lôi Trch quy muội là quẻ đầu tiên mà 
HAT CAT thấy từ BÀI THƠ CON CÓC 1 này.
 Vận mệnh một ai đó... một thân phận nào đó... chênh vênh lép vế  mãi  rồi  mà cũng không có gì là ngôn thun danh chính.
Kh
ông biết khi viết có phải một điều gì đó rất sâu trong TÂM THỨC nhà thơ tự trào lên ngọn bút hay không???
Xót xa cho một thân phận không riêng của ai. 
Có phải nỗi khổ của Sông núi nước non  này do Giời áp đặt?!

******
****
**

BÀI THƠ CON CÓC 1

THỨ SÁU, NGÀY 06 THÁNG 6 NĂM 2014

Thi nhân thả hồn bờ ao
Hái cỏ đất, nắng trời đan mặt nước
Con Cóc trong hang...

Thi nhân vớt nắng vừa ngâm nước
Đội lên đầu thấy mình cao von
( Con cóc trong hang) Con Cóc nhảy ra...

Thi nhân hái đôi bóng cỏ lung linh mặt ao 
Khoác vai làm súng chờ đũa nhạc trưởng...
(Con cóc nhảy ra) Con cóc ngồi đó...

Mặt ao rùng rùng âm thanh 
Trống nắng chiêng cỏ Sát Thát trùng trùng 
(Con cóc ngồi đó) Con Cóc nhảy đi.. 

Nguyễn nguyên Bảy 

 BÀI THƠ CON CÓC 1:  THÂN PHẬN XÓT XA!  

Nhà thơ Nguyên Nguyên Bảy là bậc thày vè Dịch học, 
Hat Cat tôi  nghiêng ngó sân Trình của Khổng từ lúc còn thiếu niên, nhưng vẫn còn như chưa nhập môn... 
Mon men từ rất xa, hé cửa nhìn thấy chút này.
 Xin mạo muội chép lại cho mình và cùng bạn bè...
Rỗi rãi cùng suy ngẫm cho vui.
***

Quẻ Lôi Trạch Quy Muội,
 còn gọi là quẻ Quy Muội (歸妹 guī mèi)), là quẻ thứ 54 trong Kinh Dịch. Quẻ được kết hợp bởi Nội quái là ☱ (||: 兌 dui4) Đoài hay Đầm (澤) và Ngoại quái là ☳ (|:: 震 zhèn) Chấn hay Sấm (雷).
Giải nghĩa: Tai dã. Xôn xao.

 Tai nạn, rối ren, lôi thôi, nữ chi chung, gái lấy chồng. Ác quỷ vi sủng chi tượng: tượng ma quái làm rối
Nguyễn Hiến Lê viết:
Đã tiến lên thì phải tới, về một nơi nào đó (nơi đó là mục đích); cho nên sau quẻ Tiệm tới quẻ Qui muội. Qui là về, muội là em gái; qui muội là em gái về nhà chồng.
Thoán từ:
歸妹: 征凶, 无 攸利.
Qui muội: chinh hung, vô du lợi.
Dịch: Con gái nhỏ về nhà chồng, tiến lên thì xấu, không có gì lợi cả.
Giảng: Nội quái là Đoài (con gái nhỏ), ngoại quái là Chấn (con trai lớn); chấn lại có nghĩa là động, Đoài có nghĩa là vui vẻ, thuận theo; con gái nhỏ về với trưởng nam, cho nên gọi là qui muội.
Trai gái phối hợp nhau vốn là “cái nghĩa lớn của trời đất” vì có vợ chồng rồi mới có gia đình, xã hội. Vậy mà Thoán từ bảo là xấu, vì lẽ:
- Cặp trai gái này không xứng nhau: trai lớn quá (trưởng nam) gái nhỏ quá (muội).
- Tình của họ không chính đáng: gái chỉ vì vui (hoà duyệt, đức của nội quái Ðoài) mà tự động (Chấn) theo trai; cũng có thể giảng là vì gái cầu trai mà trai đã bị động theo gái; như vậy là bất chính. Sự bất chính đó còn thấy trên bốn hào ở giữa nữa; không một hào nào ở vị chính đáng.
- Lại thêm hào 3 và 5 đều là âm mà cưỡi lên dương: 4 và 2 có cái tượng vợ ăn hiếp chồng.
Ngay từ buổi đầu, sự phối hợp đó không được chính đáng thì biết trước được về sau không có gì lợi, chỉ tệ hại thôi (Lời Đại Tượng 
truyện).


Tóm lại:
Quẻ Quy muội tượng trưng cho người con giá về nhà chồng, nếu có những hành vi không chính đáng mà tiến lên thì có hung hiểm, không có gì lợi cả.Người con gái đi lấy chồng. Công việc tiến hành đem lại xui xẻo. Không có lợi”.
Theo Bạch thư Chu dịch, Trương Lập Văn dịch: “Quẻ Quy muội, chinh phạt chắc chắn sẽ gặp nguy hiểm, không việc gì có lợi” (Quy muội, chinh phạt tắc hữu họa ương, vô sở bất lợi).
 Ý chính của quẻ Quy muội, không chỉ gói gọn trong một việc ‘xuất giá thiếu nữ’; mà quẻ Quy muội còn đi sâu phân tích lẽ ‘thường hằng không đổi’ của Trời Đất âm dương. Chỉ rõ rằng: âm phải lấy dương làm nơi quy tụ, như vậy thì trời đất hòa hợp, muôn vật theo đó mà sinh sôi nảy nở.

*************************
Xin giành thời gian đọc kỹ các ý nghĩa hào từ này để cảm thông với NGưỜI CON GÁI: ( Nguyên Hiến Lê )
Hào từ:
1 . 初九: 歸妹以娣, 跛能履, 征吉.
Sơ cửu: Qui muội dĩ qui đệ, bả năng lý, chinh cát.
Dịch: Hào 1, dương: Em gái về nhà chồng làm vợ bé, chân thọt mà đi được, tiến đi thì tốt.
Giảng: Ý nghĩa chung của quẻ là xấu, nhưng mỗi hào xấu hay tốt tùy hoàn cảnh. Như hào này dương cương ở vị thấp nhất, không có chính ứng ở trên, nên ví với người con gái nhỏ có đức, nhưng không được làm vợ cả (không có chính ứng; hào 4 cũng là dương), chỉ làm vợ bé thôi, giúp đỡ vợ cả. Vì làm vợ bé, nên bảo là chân thọt, vì giỏi giúp việc nên bảo là đi được. Cứ tiến đi siêng năng giúp việc thì tốt.
Thời xưa các vua chúa cưới một người vợ chính thì có năm ba em gái hay cháu gái cô dâu đi phù dâu rồi ở luôn bên nhà trai, gọi là “đệ” như vợ bé.
2. 九二: 眇能視, 利幽人之貞.
Cửu nhị: Diểu (miểu) năng thị, lợi u nhân chi trinh.
Dịch : Hào 2, dương: chột mà thấy được âm thầm giữ đức trinh chính thì tốt.
Giảng: Hào này dương cương đắc trung, là người con gái hiền, trinh; nhưng chính ứng với hào 5 âm nhu, bất chính, tức như gặp người chồng dở, không dựng nổi cơ đồ, nên ví với người chột mắt. Cứ âm thầm giữ đức trung của mình thì tốt. Đây là hoàn cảnh một người không gặp thời.
3. 六三: 歸妹以須, 反歸以娣.
Lục tam: qui muội dĩ tu, phản qui dĩ đệ.
Dịch: Hào 3, âm: Em gái về nhà chồng, chờ đợi mãi, nóng lòng trở về làm vợ bé.
Giảng: Hào này ở trên cùng nội quái, có địa vị, đáng lẽ không phải làm vợ bé. Nhưng vì là âm nhu, bất trung bất chính, mà lại đa tình (ham vui là tính cách của nội quái đoài) tính nết như thế nên ế chồng, chờ đợi mãi không ai chịu lấy, đành phải trở về làm vợ bé vậy. Kẻ ham công danh, phú quí, cầu cạnh người, kết quả bị người khinh, coi như tôi tớ, cũng giống cô gái trong hào này.
4. 九四: 歸妹, 愆期, 遲歸, 有時.
Cửu tứ: Qui muội, khiên kì, trì qui, hữu thời.
Dịch: Hào 4, dương: em gái về nhà chồng, lỡ thời; nhưng dù chậm gả ít lâu, rồi cũng sẽ có lúc gặp đựơc chồng tốt..
Giảng: Hào này dương cương, ở ngoại quái là người con gái đã hiền lại sang, nhưng không có hào chính ứng với nó (vì 1 cũng là dương), nên lỡ thời, không sao, cứ đợi giá cao, chậm trễ ít lâu rồi sẽ gặp duyên lành.
5. 六五: 帝乙歸妹, 其君之袂, 不如其娣之袂良, 月幾望, 吉.
Lục ngũ: Đế Ất qui muội, kì quân chi duệ, bất như kì đệ chi duệ lương, nguyệt cơ vọng, cát.
Dịch: Hào 5, âm: Vua Đế Ất (nhà Thương) cho em gái về nhà chồng, tay áo của công chúa (cô dâu) không đẹp bằng tay áo của cô phù dâu (vợ bé); như trăng đêm muời bốn (sắp đến rằm) tốt.
Giảng: Hào này âm nhu đắc trung, ở địa vị cao quí mà lại chính ứng với hào 2 dương, địa vị thấp, như nàng công chúa em vua Ðế Ất mà hạ giá với bình dân. Đã vậy mà khi rước dâu, y phục của nàng lại không đẹp bằng y phục mấy cô phù dâu (vợ bé). Như vậy là đức hạnh rất cao, không hợm mình địa vị cao quí, lại coi thường phục sức. Đức như vậy thật đẹp, như trăng mười bốn (trăng mười bốn tròn, đẹp mà chưa đầy hẳn; chưa đầy hẳn có nghĩa là Khiêm hư).
6. 上六: 女承筐, 无實.士刲羊, 无血, 无攸利.
Thượng lục: Nữ thừa khuông ,vô thực.
Sĩ khuê dương, vô huyết, vô du lợi.
Dịch: Hào trên cùng, âm: (Để cúng tổ tiên) người con gái (vợ) xách giỏ mà giỏ không có đồ cúng, người con trai (chồng) cắt cổ con cừu để lấy huyết mà (cắt giả vờ) không có huyết, không có gì lợi cả.
Giảng: Năm hào trên, các cô em gái đều về nhà chồng cả rồi, hào này là hào trên cùng, muộn nhất, mà lại không có chính ứng ( hào 3 ứng với nó cũng là âm), không thành vợ chồng chính thức được, chỉ sống bậy bạ với nhau, không có gì lợi cả.
Hồi xưa, khi cúng tổ tiên, bổn phận của vợ là dâng đồ cúng, của chồng là dâng huyết cừu; người con gái trong hào này xách giỏ dâng đồ cúng mà giỏ lại trống không, còn người con trai cắt cổ cừu để lấy huyết thì lại cắt giả vờ, không có huyết; như vậy thì tổ tiên nào chứng giám, trai gái không thành vợ chồng chính thức được. Vì hữu danh mà vô thực.
°

;

Chủ Nhật, ngày 20 tháng 7 năm 2014

NHẠT THẾCH

Hôm về nhà một người bạn xa quê, nhìn thấy căn nhà trống trơn, xiêu vẹo. Mấy tên già bèn bảo nhau thử vịnh.
Thế là đứa nọ nối tiếp đứa kia... thành một LIÊN VẦN không chấm phảy.
********************

chữ nhạt thếch
dưới ngón tay
 tranh nhạt thếch
sau ngọn cọ
mùa đông nhạt thếch
trời
trên lá

nhạt thếch gió 
 nhạt thếch mưa
chân đưa
qua  nhạt thếch những con  đường vòng vo
đến những ngôi nhà nhạt thếch
trống  huếch
phên thưa

chủ nhà ngủ chưa
um tùm gai mây chẹn kín
 lối ra  vào con chó vện
    mèo mun nghển cổ ngoao ngoao 

con cóc lòn qua hàng rào
nghiến răng  kèn kẹt
con thạch sùng giấu mình sau kẽ liếp
tặc lưỡi liên hồi
đàn  kiến đen nhỏ xíu tha mồi
nem nép nơi chân cột

nhà tranh dột
gió lùa mưa hắt tứ tung
vách đất trống không
nền nhà chuột dũi
cửa hang tối
chin chít tiếng rít răng
chuột chuột chuột
chuột chạy lăng xăng
béo ú

nhạt thếch trăng đầu ngõ
bụi duối, cây cau

nhạt thếch màu
nhòa nhòa bóng tối

vồi vội
ánh tà dương
vương vương
 vãi vãi

le le lói lói
 ma trơi
vù vù
hớt hải

nhạt thếch
 sợ hãi
nhạt thếch thở dài
 bi ai
 nhạt thếch 

nhạt thếch
 ao bèo nước ốc
tôi ơi

16:38 09-11-2010


;

Thứ Bảy, ngày 19 tháng 7 năm 2014

Bài thơ CON CÓC 4/ LỜI ƯỚC ĐOÁN NẰM SAU TRANG GIẤY.




NNB:
Tôi thực có viết 4 Bài Thơ Con Cóc nhân sự kiện dàn khoan 981 kéo sang xâm lược nước ta. Đó là thành ý muốn góp sức bé mọn của mình cùng toàn dân chống giặc, nhưng ngại e đóng góp làm quẩn rối Diên Hồng, nên chép thành thơ dịch học. Vui thay, thơ dịch học con cóc này được bầu bạn cảm thông, chia sẻ. Biết ơn và sẽ ráng sức góp phần có thể cho sự tồn vinh của dân tộc, của đất nước Việt Nam ta.
Bài thơ CON CÓC 4 

LỜI ƯỚC ĐOÁN  NẰM SAU TRANG GIẤY.
Hạt Cát 

;