Thứ Sáu, 17 tháng 11, 2017

XUAN LAN Đọc NÕN NÀ ƠI

CẢM NGHĨ CỦA ORCHID KHI ĐỌC BÀI THƠ “NÕN NÀ ƠI” của Hat Cat Diệu Sinh

      ( Bài viết của Đõ thị Xuân Lan _ Lúa Bông )
*****************************************************************

NÕN NÀ ƠI,

( nõn nà chỉ vẻ đẹp đến tinh khôi, chỉ ra một cái gì đó mờ ảo đến lý tưởng )

Nõn nà là nõn nà ơi!
Khuya đêm ai hứng sương lơi búp trà?
Khum tay nhẹ vợt hương hoa
Trái là mật ngọt, phải là nhuỵ thơm.
Khẽ khàng xuân ấp nụ hôn
Nồng nàn xuân riết vòng ôm nồng nàn.

Mùa tàn. Tình vẫn chửa tàn
Mộng mơ xuân vẫn bàn hoàn bóng ai
Mịn mềm buông lọn tóc mai
Mọng xuân yếm thắm hoa cài tuyết lê.
Nụ yêu đắm đuối đê mê
Chốn đào nguyên má môi kề má môi!
Yêu cho lật đất, sụt giời
Cho tương tư rối bời bời áo khăn.
Là duyên là nợ vạn năm,
Là tơ vương rút ruột tằm chuốt tơ.
Là xưa đợi, là mai chờ...
Là muôn kiếp dệt áng thơ tặng tình.

Nõn nà dáng, nõn nà hình
Xuân tình trong vắt ngọt lành hương mây
Nõn nà tỉnh, nõn nà say
Vòng tay bỏng rát vòng tay lửa bồng.
Khát khao tình ém đáy lòng...

Nõn nà nhé!
Đợi tương phùng một mai!

___________________________________________________________________
CẢM NGHĨ CỦA ORCHID KHI ĐỌC BÀI THƠ “NÕN NÀ ƠI” của Hat Cat Diệu Sinh

        Tình yêu đôi lứa là đề tài phổ biến trong thơ, hầu như nhà thơ nào cũng có làm thơ về chủ đề này. Thơ giúp con người diễn tả mọi cảm xúc trong yêu đương như nhớ thương, đợi chờ hò hẹn, hờn dỗi, hạnh phúc, khổ đau, chia ly… nhưng cảm xúc của những phút thăng hoa trong tình yêu vợ chồng thì rất ít nhà thơ chạm tới, bởi đó là một chủ đề khó. Cái khó ở chỗ người ta thường định kiến về chuyện chăn gối là thô, là tục, là thấp kém, là cần che đậy dấu diếm,… Vậy mà nhà thơ Hạt Cát đã làm thơ về chủ đề ấy, bài NÕN NÀ ƠI vượt qua được định kiến khi nói về cái tình chăn gối vợ chồng, mang đến cho ta những ý thơ đẹp đẽ chân thực và đầy chất thi ca.
       Vào một buổi sáng lang thang Facebook trong khi đợi đến tiết dạy, tôi đọc bài thơ NÕN NÀ ƠI của Hạt Cát và cảm thấy rất thú vị.  Hôm nay ngày hè rảnh rỗi, tôi chia sẻ điều thú vị đó cùng các bạn. Trước hết giới thiệu với các bạn nội dung bài thơ NÕN NÀ ƠI (Xem ở link: https://www.facebook.com/hat.cat.92/posts/626099877525140?comment_id=626596477475480&notif_t=like)
        Ở khổ thơ đầu:  “Nõn nà là nõn nà ơi!
                                   Khuya đêm ai hứng sương lơi búp trà?
                                   Khum tay nhẹ vợt hương hoa
                                   Trái là mật ngọt, phải là nhuỵ thơm.
                                   Khẽ khàng xuân ấp nụ hôn
                                   Nồng nàn xuân riết vòng ôm nồng nàn.
        Tác giả chẳng nói đến một nhân vật nào, tuy nhiên chỉ qua câu cảm thán, nhẹ nhàng như hơi thở “Nõn nà là nõn nà ơi!”, liền sau đó là câu hỏi dịu dàng: “Khuya đêm ai hứng sương lơi búp trà?” ta thấy có hai người nam nữ đang yêu, rất dịu dàng thì thầm cùng nhau. Trong khung cảnh khuya đêm, sương rơi nhẹ trên búp hoa trà tỏa hương thanh khiết, hai người yêu nhau đến bên nhau thật là tự nhiên, trao cho nhau những nồng nàn, dịu ngọt của tình yêu: “Khẽ khàng xuân ấp nụ hôn - Nồng nàn xuân riết vòng ôm nồng nàn”. Lối ẩn dụ tu từ trong hai câu này thật đặc sắc, rõ ràng chẳng phải mùa xuân đang “khẽ khàng hôn” và “nồng nàn ôm” một ai, hiểu như thế ta thấy ngay sự vô lí. Ở đây từ “xuân” là chỉ hai người yêu bên nhau, tình yêu đã làm cho họ thành mùa xuân của nhau trong đêm yêu. Cỏ cây dâng hương thơm vị ngọt cho đêm tình yêu, hay tình yêu của họ mang hương thơm vị ngọt cho cỏ cây thì không thể phân biệt được nữa, chỉ còn lại: “nồng nàn xuân riết vòng ôm nồng nàn”.
       Hai câu thơ tiếp theo là lời thủ thỉ trao gửi yêu đương, tâm tình nhớ thương của người nam nói với người nữ:
                                 “Mùa tàn. Tình vẫn chửa tàn
                                 Mộng mơ xuân vẫn bàn hoàn bóng ai”
      Tác giả đã rất khéo léo khi diễn tả sự tinh tế của người phụ nữ ở chỗ nàng đền đáp lại tâm tình của chàng trai không bằng lời nói, mà bằng dáng vẻ yêu kiều, quyến rũ, trẻ trung, gợi tình:
                                  “Mịn mềm buông lọn tóc mai
                                  Mọng xuân yếm thắm hoa cài tuyết lê”
      Trong bốn câu trên, cũng vẫn với biện pháp ẩn dụ tác giả dùng từ “xuân” lúc là chàng, lúc lại là nàng rất tài tình. Tác giả cho nhân vật nam dùng từ “xuân” để xưng hô với người yêu: “Mùa tàn. Tình vẫn chửa tàn. Mộng mơ xuân vẫn bàn hoàn bóng ai”nghĩa là chàng nói với nàng: “ngày tháng trôi qua anh vẫn hoài yêu và nhớ em”, còn câu: “Mọng xuân yếm thắm hoa cài tuyết lê” thì đích thị là cử chỉ dáng diệu của nàng, không thể lẫn lộn.
      Tác giả diễn tả cuộc yêu đương mê đắm, cuồng si chỉ có hai người biết:
                                  Nụ yêu đắm đuối đê mê
                                 Chốn đào nguyên má môi kề má môi!
                                  Yêu cho lật đất, sụt giời
                                 Cho tương tư rối bời bời áo khăn.
      Bằng lời thơ tự nhiên phóng khoáng, tả thực nhưng không thô bởi cách dùng từ độc đáo, biện pháp tu từ ẩn dụ được sử dụng tinh tế, những “nụ yêu”, “má môi kề má môi”, hoặc cho đến đỉnh cao của các cung bậc cảm xúc yêu đương: “ Yêu cho lật đất, sụt giời, Cho tương tư rối bời bời áo khăn”, làm cho người đọc sẽ liên tưởng chuyện gối chăn, tác giả tả rất thật nhưng vẫn cứ tự nhiên, cứ đẹp đẽ ngời ngời vẻ đẹp phồn sinh mà tạo hóa đã đem đến cho cuộc sống lứa đôi. Hạt Cát đã rất tài tình viết những vần thơ vượt qua được định kiến mà người đời vẫn thường nhìn nhận về cuộc yêu là thú vui xác thịt, là thô tục. Hạt Cát phải có tài thơ thiên phú mới xử lí được tình huống này hay đến vậy, vẻ đẹp phồn thực được khắc họa thanh thoát bởi ngôn từ đặc sắc, nâng cánh cho cảm xúc thăng hoa đến vậy. Đọc thơ Hạt Cát tả vợ chồng chăn gối, tôi bất giác nhớ đến nữ thi nhân Hồ Xuân Hương, bà cũng có những tuyệt bút khiến người đọc liên tưởng đến vẻ đẹp phồn thực của Thiếu nữ ngủ ngày: “Đôi gò bồng đảo sương còn ngậm. Một lạch đào nguyên suối chửa thong”.
    Người ta thường nói đến vẻ đẹp trong quan hệ tình cảm là: “ sống có tình, có nghĩa”.  Sau khi “yêu cho lật đất, sụt giời”, hai người nam nữ đã nghĩ gì về nhau, ta hãy đọc tiếp bốn câu thơ tiếp theo để thấy nét đẹp nhân văn trong đoạn kết. Ân tình hẹn thề thủy chung họ giành cho nhau, hứa hẹn mở ra cái kết có hậu, tình nghĩa bền lâu :
                                        Là duyên là nợ vạn năm
                                        Là tơ vương rút ruột tằm chuốt tơ
                                        Là xưa đợi, là mai chờ
                                        Là muôn kiếp dệt áng thơ tặng tình.
     Dư vị của cuộc yêu còn theo mãi trong kí ức:
                                      Nõn nà dáng, nõn nà hình
                                      Xuân tình trong vắt ngọt lành hương mây
                                      Nõn nà tỉnh, nõn nà say
                                     Vòng tay bỏng rát vòng tay lửa bồng.
                                      Khát khao tình ém đáy lòng...
                                      Nõn nà nhé!
                                      Đợi tương phùng một mai!
     Một điều độc đáo phải nói đến trong bài thơ là tác giả cho người nam gọi người nữ bằng từ NÕN NÀ, như người ta hay gọi người yêu âu yếm là “mèo con”, “honey”….. Ta hãy tìm hiểu về “nõn nà” trong dân gian Việt Nam. Tôi đã đọc được bài “Nõ (nõn) nường _ An Chi (KTNN 224, ngày 10-10-1996)” – link http://tunguyenhoc.blogspot.com/2012/01/no-non-nuong-chi-ktnn-224-ngay-10-10.html, xin trích nội dung sau “Trong tiếng Việt, âm xưa của noãn là nõn. Nghĩa gốc của từ này trong tiếng Việt có xê dịch một tí so với nghĩa của nguyên từ trong tiếng Hán; nõn là dương vật như đã được ghi nhận trong Từ điển tiếng Việt do Văn Tân chủ biên, tại mục “nõn nường”: “Từ chỉ vật làm bằng gỗ, tượng trưng cho dương vật (nõn) và âm hộ (nường) do nhân dân ở miền Dị-nậu và Khúc-lạc (Phú-thọ) xưa làm ra để rước thần; khi rước, những người khiêng kiệu vừa đi vừa hát: Ba mươi sáu cái nõn nường, Cái để đầu giường cái để đầu tay. Khi kiệu đến chỗ thờ thần, người ta tung nõn và nường cho mọi người cướp; con trai cướp được nường, con gái cướp được nõn là điềm tốt”.  Do vậy khi ghép chung thành NÕN NÀ để gọi người yêu trong cuộc yêu thì thật là thông minh, gợi tình, quyến rũ.
     Đọc đến đây ta cảm nhận được một tứ thơ độc đáo: hai người nam nữ trao gửi yêu thương, cả hai cùng toát lên vẻ nồng nàn dâng hiến, mỗi giới một vẻ, tuy hai mà một, tuy một mà hai, người nam chủ động, người nữ giấu vẻ quyến rũ trong cái e lệ kín đáo. Đó là VẺ ĐẸP XƯA trong thể hiện tình yêu trai gái của người Việt ta, đặc biệt là ở người nữ, nàng yêu đó, thương đó, say đắm đó, mà lại e ấp thẹn thùng, vẻ quyến rũ rất đàn bà Việt Nam. Bài thơ viết bằng thể thơ lục bát gần gũi, nhịp thơ linh hoạt để diễn tả tình cảm phù hợp với phát triển tâm lí tình cảm nhân vật, khi  chậm rãi theo nhịp 2-2-2: “Khuya đêm/ ai hứng/ sương lơi/ búp trà?. Khum tay/  nhẹ vợt/ hương hoa. Trái là/  mật ngọt, phải là/ nhuỵ thơm”; lúc nhanh câu 6 chữ nhịp 2-4, câu tám chữ nhịp 2-2-4: “Mùa tàn/ Tình vẫn chửa tàn; Mộng mơ/  xuân vẫn/  bàn hoàn bóng ai”; hoặc “Mịn mềm/  buông lọn tóc mai; Mọng xuân/  yếm thắm/ hoa cài tuyết lê”….
       Ngoài nghệ thuật dùng ngôn ngữ rất tài tình trong thơ tình của Hạt Cát như đã minh họa qua 2 bài thơ “Bến song xưa” và “Nõn nà ơi”, ta có thể thấy Hạt Cát đã cho nhân vật trữ tình trong thơ của mình dù chia xa hay mãi bên nhau đều hướng tới tính nhân văn, chan chứa tình người.

Thứ Tư, 15 tháng 11, 2017

TÌNH ĐÔNG

 
DUYÊN ĐÔNG

Chợt lòng - câu hát vô thanh
Là tình ta gửi cho mình, đấy ai! 

Mai rồi rét lộc, rét đài
 Xuân mưa xoe nụ giêng,  hai rõ tròn.

Lọc chiều tụ giọt nắng non
Chắt đêm nhặt đốm trăng son giãi tình.

 Duyên đông 
ngọn bấc se mình
 Tình đông 
khua nước quanh quanh mạn thuyền.

Hoàng hôn ai buộc thuyền quyên.
Ráng chiều ai tước mịn mền Trúc mai.

Vô thanh duyên 
quyện Linh Đài
Vô thanh tình 
ngoắc Thiên Thai mơ màng...

Hat Cat 15/11/2017

  







;

NGẪM

NGẪM

Không vạn thuỷ, chả thiên sơn
Gót chân mòn chặng đường mòn mấp mô
Cõi đời lúc thức lúc mơ
Tình đời nay nắng mai mưa, mặc tinh!

Tụ tan, mặn nhat, rách lành
Cây trơ trọi, gió tênh hênh.
Cơ cầu?!
Ngược xuôi  lộn cuối, đảo đầu
Chót môi, ngọn lưỡi vài câu nhạt nhèo...

Đá vực thẳm, sỏi lưng đèo
Tình người - hay chỉ rong rêu cuộc người.

Hat Cat
11/11/2016
;

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2017

ĐỜI LÍNH ( thơ song thât lục bát)

lời thưa cùng bè bạn  XIN BÈ BẠN CÙNG ĐỌC LẠI chùm thơ SONG THẤT LỤC BÁT của Hat Cat Dieu Sinh
===============================================

-- KHÚC NHÔI 2 -- ĐỜI LÍNH

1 - Ngoài bể Đông ầm ầm sóng dậy
Nơi chiến trường lửa cháy mịt mờ
Chân dép lốp, lưng ba lô
Bi đông lèn ứ lơ ngơ lẽ đời.

2- Thân lính tráng màn trời chiếu đất
Chợt nắng thiêu, chợt sập sập mưa
Kẻng cơm hai bữa rau dưa
Nửa đêm báo động kíp giờ hành quân

3- Sống với dân, gọi dân: cha mẹ
Cũng phân gio san sẻ việc đồng
Một  thời công lính nước sông
Một thời có cũng như không...
Xá gì.

4- Mưa lép nhép đi về bùn đất
Rét phong phanh chăn tấc lạnh lòng
Có còn mình nữa hay không?
Cuộc đời sương dạt bão ròng một khi...

5- Rền rĩ tiếng dế khuya ủ rũ
Trằn trọc đêm giấc ngủ không yên
Vo tròn dấu hết ưu phiền
Khép cho kín mọi nỗi niềm riêng tây.

6- Nắng tháng bảy táp cây chết cỏ
Bão tháng mười cây đổ nhà xiêu
Thân như ngọn liễu tiêu điều
Như chim lạc tổ rã kêu gọi bầy.

7- Đời ngoằn ngoèo lối này, đường nọ
Việc quân cơ xanh đỏ màu sơn!
Áo quần vai đũng sờn mòn
Tàu tàu cỏ úa...
Vẫn còn bấy nay!

*****
8- Trời thẳm cao ngàn mây xanh biếc
 Lại vi vu theo nhịp gió đưa
Lại về gốc sấu, cội me
Lại phơi phượng vĩ thắm hè ước ao

9- Lại về nơi ngọt ngào xưa cũ
Với ấm nồng hoa sữa thu đêm
Lại về ngan ngát mùa sen
Bồng bềnh trăng ánh ủ men Tây Hồ

10 - Lại về tìm mộng mơ đã mất
Tóc bông lau gội lất phất mưa
Lắng sương tí tách gọi mùa
Nghe bâng khuâng cả sau xưa muộn màng
;

NHỮNG LỜI TIÊN TRI của Đức LIÊN HOA SANH

LỜI TIÊN TRI KỲ LẠ ‘CHÍNH XÁC ĐẾN TỪNG CHỮ’ CỦA ĐẠI SƯ TÂY TẠNG HƠN 1000 NĂM TRƯỚC VỀ TƯƠNG LAI NHÂN LOẠI HIỆN ĐẠI


Trước khi Đức Phật Thích Ca nhập niết bàn tại Thánh địa Kushinagar, ngài đã nói với các đệ tử của mình rằng:

“Trong thế gian vô thường này chúng sinh không thể tránh được cái chết, giờ đã tới lúc ta phải ra đi. Nhưng đừng than khóc nữa, vì 12 năm sau khi ta lìa thế gian, tại hồ Dhanakosha ở góc tây bắc của xứ Urgyan, sẽ có một đấng thông thái và đầy quyền năng sinh ra trong một đóa hoa sen. Người đó sẽ được gọi là Liên Hoa Sinh và truyền bá Mật giáo.”

Đấng thông thái mà Phật Thích Ca Mâu Ni nhắc đến chính là Đại sư Liên Hoa Sinh, người truyền bá Phật giáo sang Tây Tạng và được các đệ tử tôn kính gọi là “Đức Phật thứ 2"

Truyền thuyết về Đại sư Liên Hoa Sinh

Tương truyền, Đại sư Liên Hoa Sinh là một hóa thân của Phật A Di Đà. Ngài sinh ra trong một đóa sen ở giữa Hồ Ngọc (hồ Dhanakosha) thuộc xứ Urgyan, phía tây của Bodhgaya (tức Bồ Đề Đạo Tràng). Ngay từ khi sinh ra, Liên Hoa Sinh đã mang thần thái của một đấng giác ngộ, sớm thông tuệ các giáo lý Phật Pháp. Ngài đã được vua Indrabodhi nhận làm con trai và trao quyền kế vị vương quốc.

*_ Thế nhưng, khi đã đạt tới đỉnh cao của quyền lực thế gian, Liên Hoa Sinh nhận ra rằng vạn vật trong cõi vô thường chỉ là hư ảo. Ngài đã quyết định từ bỏ ngai vàng để xuất gia tu hành. Cũng trong những năm tháng ấy, đại sư đã nhiều lần sử dụng thần thông, nhiếp phục ma quái, và đẩy lùi thiên tai, để lại nhiều truyện thần thoại cho đời sau. Vì vậy mà người ta còn gọi ngài là “Đạo sư quý báu”, “Quỹ Phạm Sư Bảo”, hay “Sư Tôn Bảo”.

Điều đặc biệt là tất cả những lời dạy của Đại sư Liên Hoa Sinh đã được một đệ tử của ngài là Đức bà Yeshe Tsogyal, người có trí nhớ kỳ diệu, chi chép lại trong Kinh Dakini. Cuốn sách này đã được cất giấu và chỉ được hậu thế tìm ra cách nay khoảng 500 năm. Đoạn trích dẫn trong ngoặc kép dưới đây là lời tiên tri về thời mạt pháp, tức thời đại ngày nay của chúng ta:

Dự ngôn về thời mạt pháp

Khi vị vua bảo hộ Mật giáo ở Tây Tạng tên là Trisondetsen hỏi đức Liên Hoa Sinh về thời Mạt pháp, ngài đã trả lời rằng:

1-- Sư tăng vô đạo…

“Khi thời mạt pháp đi dần tới nạn lửa cuối cùng, tuổi thọ của kiếp người giảm và bóng tối dầy đặc hơn, nhưng con đường sa đọa vẫn còn được kiềm chế khi người ta vẫn còn nghe lời Phật và vẫn còn theo Đạo Pháp.

*_ Vào khoảng cuối thời hắc ám này, khi tuổi thọ giảm từ 65 xuống 55, còn tính vị kỷ của người ta tăng mà không giảm, thì những tình trạng xấu sẽ thắng thế, báo trước sự hủy hoại của Đại Bảo Tháp (Đại Bảo Tháp là một hình ảnh ẩn dụ, có thể hiểu nôm na là tín tâm của nhân loại đối với Phật Pháp – NV), đó là:

*__ Người tại gia đến ở đầy chùa và đánh nhau trước bàn thờ. Đền chùa được dùng làm lò sát sinh. Các vị ẩn tu trong hang núi trở về cày ruộng. Các Thiền giả sẽ đi buôn. Bọn trộm cướp thì có của cải và gia súc. Tu sĩ trở thành người tại gia. Còn các sư trưởng thì trở thành giặc cướp, trộm đạo.

**__ Trật tự trở thành hỗn loạn, biến thành hốt hoảng lan nhanh như lửa cháy rừng. Người hư hỏng và vị kỷ trở thành lãnh tụ, còn các sư trưởng trở thành sĩ quan quân đội chỉ huy các tu sĩ quân nhân của họ. Các nữ tu giết con hoang của mình. Có những người phải chứng kiến cảnh cơ nghiệp và gia sản của mình bị cướp đoạt. Bọn mị dân ác độc và thô lỗ trở thành các lãnh đạo địa phương, còn các cô gái thì dạy trẻ con ở các trường học. Phù thủy Bon lớn tiếng đến nỗi Thiền giả trong am thất cũng nghe thấy, và các đền chùa bị cướp bóc.

2--Kinh sách của chư Phật, tượng Phật, tranh ảnh và các Tháp bị xâm phạm, bị đánh cắp và mua bán với giá ngoài chợ, không ai nhớ tới giá trị thật của những vật này. Đền chùa trở thành chuồng trâu, chuồng ngựa phủ đầy phân.

3-- Nhân tâm suy đồi

“Khi người ta quên bổn phận tôn giáo thì ma quỷ, vốn bị kềm chế bằng các nghi lễ, sẽ được thả lỏng, làm loạn và điều khiển tâm trí của người nào mà chúng nhập.
- Ma thù địch nhập vào các tu sĩ.
- Ma vị kỷ độc ác nhập vào các hành giả Mật chú và các phù thủy. Ma bệnh tật nhập vào các đạo sĩ Bon.
- Ma gây bệnh nhập vào đàn ông.
-Ma cãi cọ nhập vào đàn bà.
- Ma lả lơi nhập vào các cô gái.
- Ma hư hỏng nhập vào các nữ tu.
- Ma phá rối nhập vào trẻ con.

Mọi người đàn ông, đàn bà, trẻ con trong xứ đều bị lực lượng hắc ám được thả lỏng nhập vào.

4-- Dấu hiệu của thời này là kiểu y phục mới, kỳ lạ: kiểu quần áo cũ kỹ bị bỏ quên.
- Các tu sĩ mặc kiểu áo mới lạ, còn các nữ tu thì sửa sang trước tấm gương.
-,Mọi người đều phải mang gươm để tự vệ và ai cũng canh chừng để thức ăn của mình không bị bỏ thuốc độc.

- Sư trưởng và thầy làm ô nhiễm tâm trí các đệ tử của họ.
- Nhà cầm quyền và các pháp quan không đồng ý với nhau.
- Đàn ông trở nên thô tục, buông thả.
- Đàn bà không còn trong sạch nữa.
- Các tu sĩ không giữ giới và đức hạnh.
- Các hành giả Mật chú vi phạm lời thệ nguyện. Khi sự hoành hành của các ma độc ác, vị kỷ, thù hận và tàn bạo gia tăng, thì những tin đồn hoảng hốt cũng gia tăng và kiểu y phục thay đổi thường xuyên hơn.”

5-- Chính giáo và tà giáo

“Bọn say rượu thuyết giảng về sự cứu rỗi
- . Bọn mị dân được người ta nghe theo.
- Các vị thầy giả mạo truyền tâm ấn giả dối.
- Bọn lừa bịp khoe là có thần thông.
- Tài hùng biện được coi là trí huệ.
- Bọn kiêu ngạo đề cao phàm tục.
- Bọn hạ tiện cai trị vương quốc.
- Các vua chúa trở thành người nghèo.
- Bọn đồ tể và bọn giết người trở thành thủ lãnh.
- Bọn tham vọng tiến thân thô lỗ leo lên vị trí cao.
- Các vị Thầy của nghi quỹ cao cấp chạy rông như chó ngoài đường, còn các đệ tử của họ thì không có tín tâm cũng đi lang thang như sư tử trong rừng.
- Những người hiện thân của độc ác và vị kỷ được kính trọng như các vị thầy, trong khi sự thành tựu của các vị thầy Mật giáo thì bị nói xấu, lời dạy của Đạo Sư Bí Mật bị coi là tà đạo, giáo lý của Đức Phật bị bỏ quên, lời khuyên của các Thiền giả và các Thánh nhân bị làm ngơ.
 - Bọn ngu ngốc và bọn gian tà mặc áo Tu sĩ, còn các Tu sĩ mặc y phục của ngoại nhân; bọn sát nhân cũng mặc áo cà sa.
- Những người tìm ma thuật học Mật chú vì mục đích vị kỷ.
- Tu sĩ chế thuốc độc để bức bách người khác và để trục lợi.
- Giáo lý tà ngụy được tạo ra từ lời Phật và các vị thầy diễn giải kinh điển để tự đề cao.

6-- Người ta đi theo những con đường nguy hiểm chưa được biết trước đây. Nhiều lối tu hành gian tà lan rộng. Những hành vi vốn được coi là xấu xa thì lại được dung dưỡng; những tư tưởng mới trái ngược với phong tục cũ, những tục lệ tốt bị từ bỏ, những lối sống mới đáng khinh làm hư hỏng con người, tài sản của đền chùa bị cướp đoạt và bị những người đã thọ giới tiêu phí.
 - Đi theo đường tà, con người bị kẹt trong chính những hành động xấu của họ. Những người bảo hộ giáo lý thuần túy thì lại tham lam, giả dối, không làm tròn bổn phận của họ nữa.”

***_ Thiên tai nhân họa, bệnh tật tràn lan

“Thiên lý bị đảo lộn, gây ra dịch bệnh, nạn đói và chiến tranh để làm khủng hoảng đời sống thế gian.
- Các tinh tú hỗn loạn, những ngôi sao rơi khỏi các chòm sao; những ngôi sao lớn bốc cháy xuất hiện mang lại tai họa không thể lường trước được. - Mưa rơi không đúng mùa, mà trái mùa; các thung lũng bị ngập lụt. Nạn đói, sương giá và mưa đá gây mất mùa nhiều năm.
- Bọn nữ quỷ dữ tợn và mười hai nữ hộ pháp không được cúng tế nữa nên nổi giận thả lỏng các bệnh tật cùng các bệnh dịch khủng khiếp lan tràn như lửa cháy rừng, làm hại cả người lẫn gia súc.
- Những trận động đất gây nạn lụt bất ngờ, trong khi lửa, bão và gió lốc tàn phá đền chùa, tháp và các thành phố trong khoảnh khắc.”

- "Trong cảnh đen tối này, Pháp luân ở Vajrasana (Bồ đề đạo tràng) không hoạt động nữa; chiến tranh tàn phá Nepal trong nhiều năm; Ấn Độ gặp nạn đói; thung lũng Kathmandu bị bệnh dịch hoành hành; động đất tiêu diệt dân xứ Ngari Thượng ở miền tây Tây Tạng; bệnh dịch hủy diệt dân miền trung Tây Tạng; quận Thung lũng Kyi của thủ đô Lhasa vẫn tồn tại; các đỉnh của Hy Mã Lạp Sơn ở biên giới xứ Mon bị đổ xuống các thung lũng. Ba đồn phòng thủ được xây trên núi Năm Đỉnh; các Thiền giả tụ họp nơi thung lũng Hang Gấu ở Mon; hai mặt trời mọc ở tỉnh Kham về hướng đông;
 - Hoàng đế trung Hoa chết đột ngột; bốn đạo quân tràn xuống miền trung Tây Tạng từ biên giới; quân Hồi giáo chiếm Ấn Độ; quân Garlok diệt giáo pháp ở Kashmir; người Mông cổ chiếm Tây Tạng; quân Jang tiến vào Kham; chùa Hộ Pháp Rasa Trulnang bị đe dọa; chùa Samye danh tiếng bị xâm phạm; các tháp ở Bhutan bị nghiêng và Pháp luân bị hỏng.”

 - Các chùa lớn ở xứ này bị bỏ hoang và tiếng Ợ của đạo sĩ Bon vang trong các am thất yên tĩnh; các vị lãnh đạo khôn ngoan hay chất phác của các tu viện bị đầu độc làm cho việc diễn giải và tu hành truyền thống bị phân tán hay mai một; những người bảo tồn truyền thống bị chết đột ngột.
 - Bọn giả dối lừa gạt người dân và những bóng ma đen ám ảnh xứ sở này. Nút chỉ tơ thiêng liêng trói buộc các lực lượng ma quỷ bị tháo ra và sợi dây tín tâm giữ tâm trí con người hòa hợp bị cắt đứt.
 - Luật lệ của vua bị phá và sức mạnh của sự hợp nhất xã hội bị diệt; phong tục của dân bị chối bỏ và biển an lạc bị khô cạn; đạo đức con người bị bỏ quên và ca áo khiêm tốn bị liệng bỏ.”

#__ "Người đức hạnh thì bất lực và bị hạ nhục, chịu sự sai khiến của những người cai trị thô lỗ, kiêu ngạo, đáng sợ.
- Các tu sĩ và thầy giáo trở thành sĩ quan quân đội, còn kẻ ngu dốt thì lại hướng dẫn người có đạo tâm, thuyết giảng giáo lý và truyền tâm ấn. - - Tín đồ nói xấu người khác để tự biện minh, trong khi đồ tể và voi hoang dẫn dắt người ta.
- Các đèo, các thung lũng và các đường mòn đều bị các bọn cướp vô liêm sỉ quấy phá.
 - Lo sợ, vô pháp luật và không có người hướng dẫn, dân chúng đánh lẫn nhau và hành động một cách vị kỷ. Tây Tạng trở nên bại hoại và ô nhiễm. Đây là tình trạng chính yếu trong khoảng giữa thời Mạt pháp, khi tuổi thọ của con người là năm mươi năm.”

##_. Sự xuất hiện của Đấng Cứu Thế

“Ngài có trí lực lớn và sẽ thấy rõ những gì mình sẽ làm trong đời.
- Do nhận thức bí ẩn hay rõ rệt trong các kiếp từ khi Ngài phát nguyện, Ngài sẽ tái sinh với tín tâm coi Tam Bảo là An Lạc Vĩnh Hằng, tôn kính trách vụ của giáo hội, và thành tâm với sự thiêng liêng của thân, khẩu, ý.
- Là người Đại thừa, Ngài có tâm từ bi đối với loài người cũng như các sinh vật và sự bố thí của Ngài về thân, khẩu, ý là vô tận. Với trí huệ về chân không an lạc của bản thể các pháp, Ngài quán thông Phật Hạnh bạo động và sự biểu lộ hung dữ của các hộ pháp phẫn nộ.”

“Nguyện giải trừ sự thống khổ này, vị Tulku, với lục an lạc của ta, với tâm từ bi đối với chúng sinh, không nghĩ tới thể xác, sự sống và hạnh phúc của riêng mình, khôi phục dũng mãnh bằng sự phẫn nộ thiêng liêng, ngài hướng dẫn và củng cố sức mạnh cần thiết cho người dân ở các xứ biên giới. Khi tiếng nói đức hạnh của những người lưu vong đã hợp nhất, thì những người bạn của Vĩ nhân này bắt đầu cùng nhau ra sức phục hồi Đại Bảo Tháp.
- Nhưng những quyền lực hắc ám quái đản đã dụ dỗ mọi người làm những điều tội lỗi; chỉ có ít người tôn sùng và tin tưởng vị Tulku, những người này ít như sao buổi sáng.
- Tuy nhiên, Vĩ nhân này cũng có
 + _,một trăm ba mươi ngàn tín dồ đạo hạnh,
+ _ một trăm lẻ sáu Đạo sư uyên thâm, tám mươi tám Thiền giả thành tâm trì giới,
 +_ tám mươi thí chủ rộng rãi, không keo kiệt,
+_ hai mươi ba nhà tiên tri, tám Giáo sư hóa thân của tám Bồ Tát,
 +_ hai mươi lăm đệ tử sùng tín,
 +_ năm Dakini (nữ thần) hóa thân, và hai mươi lăm thiếu nữ thuộc các gia đình cao quý.
 - Tiếp xúc với họ, Ngài thanh lọc tâm trí ô nhiễm của họ và dọn sạch mọi chướng ngại trên đường đạo của họ.”

“Tất cả những người nào ra tay phục hồi Đại Bảo Tháp, sau ba lần tái thức tỉnh, sẽ tái sinh làm người hay thần, thanh tịnh để nhận cam lộ Giáo pháp, và rốt cuộc sẽ đắc Phật quả ở cõi Tây Phương Cực Lạc (…) Tất cả những người nào cùng với Đấng Vĩ Đại, thi hành việc phục hồi Đại Bảo Tháp, dù có ý thức về Ngài hay không, dù tin tưởng và tôn sùng hay không, đều sẽ đạt thành tựu tối thượng và quyền năng tâm linh vào cuối kiếp làm người thế gian.”

#_*_ Cuối cùng, xin nêu một dự ngôn khác. Đạo sư Liên Hoa Sinh cũng có lời tiên tri giống với lời giảng của Đức Phật Thích Ca 2500 năm trước đây, rằng: Khi Đấng Cứu Thế xuất hiện thì hoa Ưu Đàm Bà La sẽ khai nở.
Lời tiên tri trong kinh Phật đã ứng nghiệm rồi, những bông hoa Ưu Đàm Bà La hiện giờ đã khai nở khắp nơi, phải chăng Đấng Cứu Thế đã có mặt tại nhân gian và đang cứu độ chúng sinh rồi?

(Dựa theo các ghi chép của Đức bà Yeshe Tsogyal trong phần “truyền thuyết về Đạo sư Liên Hoa Sinh” và “Huyền thoại Đại Bảo Tháp Bodha”)

Theo Hồng Liên/Đại Kỷ Nguyên

(Phật Liên Hoa Sanh)
;

Thứ Bảy, 11 tháng 11, 2017

NGẪM

NGẪM

Không vạn thuỷ, chả thiên sơn
Gót chân mòn chặng đường mòn mấp mô
Cõi đời lúc thức lúc mơ
Tình đời nay nắng mai mưa, mặc tinh!

Tụ tan, mặn nhat, rách lành
Cây trơ trọi, gió tênh hênh.
Cơ cầu?!
Ngược xuôi  lộn cuối, đảo đầu
Chót môi, ngọn lưỡi vài câu nhạt nhèo...

Đá vực thẳm, sỏi lưng đèo
Tình người - hay chỉ rong rêu cuộc người.

Hat Cat
11/11/2016
;

KHUYÊN MÌNH

KHUYÊN

Đừng đọc tin tức nữa.
Đọc là bị tăng - xông
Hiểu biết đâu chả thấy.
Chỉ thấy nhoi nhói lòng.

Đừng nghe thời sự nữa
Chả biết thật giả đâu
Họ nói quanh nói quéo
Chỉ tổ đau cái đầu.

Cũng ứ đi học nữa
Tiền bộn là có bằng
Kiến thức gì cũng vứt
Chỉ cần biết khom lưng.

Cần gì thi với cử
Tìm cửa mua ghế ngồi
Kiếm nơi nào béo bở.
Chung chia... Tha hồ vui.

Cố ngoi làm quan chức
Chả bị tội bao giờ
Mũ cao ở biệt phủ
Chân trắng sống bụi bờ

****
Ta về chăm hoa lá
Trồng vài chậu rau tươi
Tùng tiệm cơm vừng muối
Chút tương cà. Tươm rồi.

Thôi hãy buông xả hết
Một ngày... lãi một ngày
Thả hồn mơ màng gió
Thả tình bồng bềnh mây...

Cõi đời là bể khổ
Tranh cướp lợi cùng danh.

Cửa Thiền ta riêng cõi
Mãi xanh, xanh, và xanh!

Hat Cat
27/07/2016
;

Thứ Ba, 7 tháng 11, 2017

CHIỀU NAY

CHIỀU NAY

Chiều nay rét rồi mình ạ
Ta ngồi se sợi than hồng
Tuổi già hanh heo sương muối
Liễu già đu gió nghiêng cong

Ngọn bấc gõ ran kính cửa
Rét đông thoáng nhoẻn nét cười.
... Lá vẫn xanh biêng biếc lá
Hoa đông vẫn mọng màu môi.

... Bốn mùa năm qua tháng lại
Cánh chim quấn lọn mây bay
Ta ủ tình muôn năm cũ
Cùng mình dốc cạn hũ say

Mình ta dạt về cuối dốc
Tựa vai ngắm mảnh trăng gầy.

Hat Cat
07/11/2016
;

RÉT ĐẦU ĐÔNG

RÉT ĐẦU ĐÔNG

Rét đầu đông sà sát ngọn cây
Giời lù xù xám áo
Tôi quàng hơi đông đi dạo
Cơn bấc này ngọt đến đê mê.
Rét đầu đông dịu dàng, rét đầu đông tê tê
Phập phồng chiều nghe phố thở.

Rét đầu đông quán hàng sáng đỏ
 gọi về hơi ấm quen
 dục rượu hũ bầng men
gợi nụ hôn xa ngái.

Khao khát
Vòng tay bờ đông vàng bông cải
Vòng tay vườn xuân chờ tím hoa cà...

Ret đầu đông...
 Ruộng quê dậy hương mùa
Thơm mùi cơm mới
Se sắt màu xanh cỏ rối
Mầm non ẩn chéo bờ rơi.

Rét đầu đông…
Câu hát ấm bờ môi
Mây lưng giời vần vũ.
Khuya khẽ khàng ru đông
À... ơi...
  Cho miên man tình
 say ngủ
;

Thứ Hai, 6 tháng 11, 2017

SỚM CHÓT THU



Thu đã qua hay thu vẫn đây?
Mà men đu gió ngật ngà say
Mà sương kết ngọc li ti lá
Sớm toả hương lành quyến sắc mây.

Tình đã qua hay tình vẫn đây?
Mà nghe bóc xóc dạ vơi đầy
Bồi hồi cuộc nhớ, nôn nao nhớ
Hờn giận ngọt bùi, yêu đắng cay.

Người đã xa  hay người vẫn đây?
Tháng năm dằng dặc hoá phút giây
Đã rằng tri kỷ luân hồi kiếp
ta trọn nợ duyên giữa lòng tay.

HatCat 6/11/2015
;

LẠNH ĐÊM SA PA

LẠNH ĐÊM SA PA

Sa pa
Nỗi đêm đóng băng lá cỏ
lá cỏ gẫy đôi.
Rùn mình gió hà hơi
lạnh xuyên khe đá.
Nước to nhỏ rắn mềm lỡ cỡ
canh băng sắc cứa bình minh.

Băng lạnh núi đêm
Băng lạnh rừng xanh
Đốm than đỏ trong lò không bắt lửa.

Sapa lạnh thế!
Đêm co ro
nghe
tiếng gà ho
tiếng chuột ho
đât ho
cây lá cũng ho
Tiếng ho khan núi đồi quặn đau lầy bụi đá...

Rừng thôi không xưa cũ
Nguyên sơ bao đời biến đâu?
Tiếng rít cáp treo
Loang lổ núi trọc đầu
Tháp chùa nung mụn mủ
Không gian rền rĩ
Hả hê tiếng tiền cười...

Lạnh đêm Sa pa
Nóc núi, chỏm trời
chập chờn
chen chúc
 ma trơi.
;

NÓI THẲNG: Nếu Facebook, Google..tạm biệt chúng ta

( nguồn VĂN ĐÀN BNN)

Nói thẳng: Nếu Facebook, Google... tạm biệt chúng ta - Ảnh 1.

NÓI THẲNG:
NẾU FACEBOOK, GOOGLE..TẠM BIỆT CHÚNG TA

Tranh cãi nằm ở Khoản 4, Điều 34 Dự thảo Luật An ninh mạng: "Các doanh nghiệp nước ngoài khi cung cấp dịch vụ viễn thông, Internet tại Việt Nam phải tuân thủ pháp luật, tôn trọng chủ quyền, lợi ích, an ninh quốc gia Việt Nam, có giấy phép hoạt động, đặt cơ quan đại diện, máy chủ quản lý dữ liệu người sử dụng Việt Nam trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam...".
Phản biện dự thảo này, VCCI cảnh báo quy định buộc các doanh nghiệp nước ngoài phải đặt máy chủ tại Việt Nam là trái với các cam kết quốc tế mà chúng ta đã tham gia và ký, như WTO, EVFTA, TPP (đàm phán xong). Trong khi đó, lý do cơ quan soạn thảo đưa ra là "đặc thù Việt Nam", "bảo đảm an ninh mạng và an toàn thông tin", cũng như phòng thủ trước các cuộc tấn công mạng...
Đây rõ là biểu hiện của nỗi sợ quản không được thì cấm. Điều gì sẽ xảy ra nếu những ông lớn công nghệ nói trên rời bỏ Việt Nam?
Hội nhập quốc tế càng sâu rộng, chúng ta càng phải tuân thủ luật chơi chung. Đừng đem cái "đặc thù Việt Nam" ra để nói chuyện với bạn bè quốc tế nếu chúng ta bẻ gãy luật chơi. Đó không chỉ là uy tín quốc gia mà còn là quyền lợi của hơn 95 triệu dân trong nước.
Thấy cũng lạ, mỗi khi đưa ra các quy định gây phản ứng, cơ quan hữu trách thường bảo để "cho phù hợp thông lệ quốc tế", còn cái này thì làm ngược lại. "Quốc tế" thì chỉ có một, đâu có nhiều "quốc tế" mà nói khác nhau?
Thống kê của We Are Social đến đầu năm 2017 cho thấy đã có gần 40 triệu người Việt Nam sử dụng Internet, trong số này 51% dùng Facebook và YouTube của Google cũng thu hút được tới 51% công dân "số" người Việt sử dụng. Và các số liệu này càng tăng. Điều đó chứng tỏ sự tiện dụng và hiện đại do các ứng dụng này mang lại. Nên nhớ, chúng ta sử dụng các ứng dụng do Facebook, Google, Viber... phát triển hầu như là "xài chùa", không tốn tiền nhưng độ ổn định và an toàn thì hơn hẳn nhiều dịch vụ trong nước.
Gần 10 năm trước, Việt Nam tung ra mạng xã hội go.vn với tuyên bố sẽ thay thế Facebook nhưng rồi go.vn biến mất tăm mất dạng; nhiều mạng xã hội do nội địa phát triển cũng lần lượt bái biệt không kèn không trống. Trong khi người Việt bây giờ, nếu thử hỏi 10 cư dân mạng, sẽ có ít nhất 9 người có sử dụng một trong các dịch vụ của Facebook, Google, Viber, Skype...
Còn nhớ, 20 năm trước, Việt Nam hoà mạng Internet với nhiều băn khoăn, trong đó có băn khoăn về quản lý. Nhưng rồi, như chúng ta đã thấy, cùng chính sách mở cửa, Internet đã giúp chúng ta phát triển như thế nào. Nhiều chuyên gia công nghệ nhận định quốc gia nào vắng mặt trên xa lộ thông tin toàn cầu, quốc gia đó sẽ quay về thời kỳ đồ đá. Câu nói của dân mạng Việt "nếu tôi chết, hãy chôn tôi ở nơi có Internet" cũng là vì vậy!
Thế thì xin hỏi các nhà soạn thảo dự luật, tại sao chúng ta đi ngược xu thế thế giới, đi ngược xu thế phát triển? Chúng ta giúp được gì tốt hơn cho dân trong khi các dịch vụ số trong nước còn èo uột? Chúng ta đã ký cam kết quốc tế, toàn những sân chơi lớn, mà sao lại đi bẻ cong quy định, vậy làm sao ăn nói với người ta?
Luật thì phải cấp tiến, bám sát thực tiễn cuộc sống và phù hợp thông lệ quốc tế, đừng để vừa ra đã sửa như một số luật đã từng mắc phải. Khó như vậy nên cử tri, người dân mới cần và tin tưởng vào những "công bộc" tài trí của mình.
"Tôi không dùng Facebook, Viber, Zalo, YouTube vì mấy thứ này rất đau đầu và mất thời gian. Tôi thường nói vui với bạn bè là dùng mấy thứ này suốt ngày cứ phải vào xem có ai chọc ngoáy, có ai chửi mình hay không, rất nhức đầu. Mỗi người comment một tí thành ra phiền toái" - Cục trưởng Cục An toàn thông tin Nguyễn Thanh Hải nói trong tọa đàm "Chia sẻ Nghiên cứu sáng kiến về Công nghệ thông tin cơ bản và an toàn Internet tại Việt Nam" hôm 3-11.
Thưa ông Cục trưởng, minh bạch và trong sạch thì chẳng việc gì phải sợ. Thủ tướng Hun Sen của nước bạn Campuchia còn buộc các thành viên chính phủ phải dùng mạng xã hội để trao đổi công việc đấy ông ạ!
Có phải sợ đau đầu, sợ bị chửi... là lý do? Nói thật, còn tư duy lỗi thời như vậy thì việc hô hào cách mạng 4.0 chỉ là sáo rỗng!
Dạ Lữhttp://nld.com.vn/noi-thang/noi-thang-neu-facebook-google-tam-biet-chung-ta-20171105091932692.htm
;

Chủ Nhật, 5 tháng 11, 2017

THOÁNG CUỐI CÙNG CHO MUÔN MỘT. TA ƠI,



Còn thoáng cuối cùng cho muôn một.
Ta ơi!
Thói quen nặng ngang búa tạ
Nhác lười cùn mòn, nhác lười xa lạ
Gà què ăn quẩn cối xay..

Tư duy rã xơ cố bện chão, xe dây
Thít chặt thoáng cuối cùng - cuộng mồng tơi nhẽo rớt
Lội qua tháng ngày...  mà gấu quần không ướt
Xé rào gai tay toạc máu...  chả bầm.

Hoa nhạt hương
gió lặng thầm.
Chút chót cùng vô nghĩa
Rượu đục thế và vò cặn thế!
Giọt chát chua chén đắng ngăm ngăm.

Buông buộc ràng trăm năm
Cho trong veo đời thanh thản.

Ngồn ngộn hư danh chợ Trời rao bán
Đồng tiền tanh ngòm xủng xoảng đổi trao.

Vẫy gọi ta
ngàn sao
Cũng
Tận cùng trống rỗng!

Một muôn chót cùng
Chót cùng thoáng chốc
Giành cho mình nhé!
Ta ơi!
;

THÔI NÀO EM

THÔI NÀO EM, 

Thôi nào em, cạn nốt vò này
cho cõi người bí tỷ
cho cuộc người nhỏ lệ
cay và say.

Kìa, rượu sũng mây
rượu ướt gió
mảnh đời nghiêng ngả
đoạn đời lử lả 
cay và say.

Giời ngất ngây
Đất ngất ngây.

Thôi nào em, dốc ngược hũ này.
men tình cặn
cay và say.





;

Thứ Bảy, 4 tháng 11, 2017

LẠNH ĐÊM SA PA

LẠNH ĐÊM SA PA

Sa pa
Nỗi đêm đóng băng lá cỏ
lá cỏ gẫy đôi.
Rùn mình gió hà hơi
lạnh xuyên khe đá.
Nước to nhỏ rắn mềm lỡ cỡ
canh băng sắc cứa bình minh.

Băng lạnh núi đêm
Băng lạnh rừng xanh
Đốm than đỏ trong lò không bắt lửa.

Sapa lạnh thế!
Đêm co ro
nghe
tiếng gà ho
tiếng chuột ho
đât ho
cây lá cũng ho
Tiếng ho khan núi đồi quặn đau lầy bụi đá...

Rừng thôi không xưa cũ
Nguyên sơ bao đời biến đâu?
Tiếng rít cáp treo
Loang lổ núi trọc đầu
Tháp chùa nung mụn mủ
Không gian rền rĩ
Hả hê tiếng tiền cười...

Lạnh đêm Sa pa
Nóc núi, chỏm trời
chập chờn
chen chúc
 ma trơi.
;

Thứ Sáu, 3 tháng 11, 2017

NHỚ

NHỚ
gửi LXL

Anh nói những gi... em không nhớ nữa.
chỉ nhớ câu:
“Cứ bướng bỉnh. Nhé em!”
một lời thôi...
mà hết tháng laị năm
Hoa sấu trắng ngà hè phố.

Anh viết bao nhiêu... em không nhớ nữa
chỉ nhớ dòng:
“Anh vẫn mãi yêu em!”
Chỉ vậy thôi...
mà hết tháng lại năm
Con chữ hằn sâu tâm trí.

Biển rộng thế

Trời cao thế!

Nơi nào
-  Anh ?
;

KHUYA ĐÔNG

Mời thày bạn cùng hoạ vui

KHUYA ĐÔNG

Tiếng động nơi nao giật cái "thòm"
Bốn bề xám xịt, tối om om.
Hàng cây rụng lá thân khô khốc
 Ngọn điện rọi đêm bóng đỏ lòm
Ngõ nhỏ then cài không kẻ ngó
Phố to cửa đóng chả người dòm
Mùa đông giá lạnh tê muôn cõi
Trẻ trẻ già già hết dí dom...

Hat Cat
03/11/2016
------
Nhìn thầy cùng tỷ họa vần thòm
Rối rắm muôn trùng cái chữ om
Dẫu dốt nhưng xin chen chút chút
Tuy khờ đừng trợn hét lòm lòm
Âm vần trúc trắc nghìn người rối
Chữ nghĩa vòng vèo lắm kẻ dòm
Để họa trĩnh tròn đâu phải dễ
Đêm đông lắc lắc chiếc cà dom
Binhnguyen
;

CỒN CÀO

CỒN CÀO

Cồn cào là cồn cào ơi!
Lưỡi hái cùn nhay nỗi nhớ
Trái tim tụ bầm máu đỏ
Vết thương lại há miệng rồi!

Lửa táp vầng trán mồ côi
Bỏng tuột chân mày cô lẻ.
Gai mây cào nát dại khờ
Mảnh sành cứa ngang đau khổ

Cát bay mịt mù ngược gió
Ai về vá víu hoàng hôn?
;

Thứ Năm, 2 tháng 11, 2017

TÌNH PHÙ DU

TÌNH PHÙ DU

Vật vờ thoáng tình phù du
Có sưởi ấm chiều vụn vỡ?!

Quăn queo cuống lá tàn thu
Tơi tả rắc buồn ngọn gió.

Em về cuối miền cô lạnh
Giá buốt dại tê thân hình
Lặng câm tựa chiều lịm nắng
Thẫn thờ ngồi dệt bình minh.

Cơn mưa rắc tơi bụi phấn
Mong manh một mảnh gió hoa
Dấu buồn trong từng gân lá
Xoe nghiêng cành sữa lòa xòa

Một mai mùa đông rét mướt
Phù du lịm trong xôi xa...
;

CHIỀU KHÔNG DÀI NỮA

CHIỀU KHÔNG DÀI NỮA

Chiều không dài nữa.
Chiều ơi!
Ngoảnh nhìn.
Trời nhá nhem rồi.
Còn đâu!
Chim đàn cánh nối cánh nhau
Tiếng chiu chíp rộn nhịp cầu đợi trăng.

Ngắn dài đây đó bao lăm
Thu mây trùm mấy vuông khăn ủ giời
Lượm tàn nắng quái đem phơi
Heo may buốt giá tay người về đông.

Dấu thương nhớ tận đáy lòng
Giầu cau thắm đỏ môi hồng riêng ai.
Xạc xào gió trúc mưa mai
Nghiêng thu nào dám đơn sai hẹn thề.
....
Vi vu sáo lượn triền đê
Cỏ gừng xiên ngược lối về cũ xa.
;

CHO BÌNH YÊN

CHO BÌNH YÊN

thả mình vào chốn không mình
sớm hoàng hôn, tối bình minh...
mặc dầu
ngàn quá vãng, vạn xưa sau
cõi vô thường thoáng bóng câu cuộc người.

Hat Cat Diệu Sinh
02/11/2016
;

Thứ Ba, 31 tháng 10, 2017

ĐƯỜNG VĂN bình bài thơ TA DÌU NHAU ĐI HẾT CÕI ĐỜI NÀY


( cop từ  VĂN ĐÀN BNN)
TA DÌU NHAU ĐI HẾT CÕI ĐỜI NÀY

Thơ Hạt Cát Diệu Sinh
Lời bình: Đường văn

Dựa vào vai tôi, mình ạ.
Nắm chặt tay tôi, mình ạ.
nào cùng đi, mình nhé!
như ngày nào ta dung dẻ, dung dăng...

Mình nhìn xem: 
lá lúa trăng
đậu trên mái tóc mình óng bạc.
Kìa kìa:
lưng trời cánh hạc
rủ chúng mình cưỡi gió cùng bay.

Mình ơi,
sáng nay
nắng hồng đọng trên môi mình.
Thật đó!
cặp môi ngày nào mọng đỏ
cả đời tôi trộm khát khao.

Mình ơi, ngàn vì sao
không có ngôi nào trong như mắt mình đâu nhé!
không có ngôi sao nào nồng nàn như thế!
như đôi mắt đen tròn sưởi ấm suốt đời tôi.

Nào mình ơi, khoác tay tôi
mang thêm chiếc áo dài ấm mỏng
chiều Tết này người vắng
tôi đưa mình dạo phố xá thân quen.
tôi đưa mình về tuổi thơ bình yên
kỷ niệm thời cắp sách
ta nghịch đùa nơi vườn hoa bóng sạch
nhặt búp đa, ngắm lá hoa bay
ngắm Cột cờ* vòi vọi trong mây.
cười nắc nẻ đuổi hoa bắt bướm...

Qua rồi, mình ơi
chộn rộn
tháng ngày đói khổ
tháng ngày gian lao
qua máu đào
qua lửa đỏ.
qua cả rồi,
mình ạ! 

.... Đủ cánh lông
chim ra ràng 
rời tổ.
Còn lại Mình và Tôi

Mình của Tôi
còn đây.
Mình của Tôi
trọn vẹn.
Ta dìu nhau đi hết cõi đời này..
                                                                                                                                

12-02-2011
Thơ Hạt Cát/ Blog cùng tên

TÌNH CA U70
ĐƯỜNG VĂN

Thu đang tàn. Trời đầy mây xám, âm u. Khí đêm lành lạnh luồn qua khe cửa sổ, rập rờn quanh phòng như muốn trêu ngươi người thơ nhọc nhằn khó ngủ, chợt tỉnh giấc lúc nửa khuya, một mình vò võ. Mùa đông Đinh Dậu đang nhớm nhớm về, càng trở nên hiu hắt, hanh hao hơn đối với những lão ông, lão bà tròm trèm U70, 80... Trong cái đầu đã bắt đầu xơ nhão, hoài niệm cứ bập bỗng, chập chờn... Bỗng vang lên đâu đây giai điệu ngọt ngào, đắm đuối bài Người tình mùa đông. Và kỳ lạ, khó hiểu làm sao, lời ca dặt dìu, êm êm và day dứt lại chính là lời thơ bài Ta dìu nhau đi hết cuộc đời này của bạn thơ Hạt Cát Diệu Sinh (Bùi Cửu Trường – ái nữ của nhà thơ, nhà thư pháp lừng danh đất Thăng Long: Bùi Hạnh Cẩn)?! 
Không thể đặng đừng, tôi vùng dậy, bật máy tính, vào file, đọc lại bài thơ từng đồng cảm, yêu thích, đã copy vào computer, laptop của mình. Lần này đọc kỹ, thấy cảm xúc không chỉ giống như lần đầu mà cơ hồ có phần sâu đậm hơn, ám ảnh hơn. Hạt Cát là một người nữ làm thơ tài tử. Hình như nghề chuyên môn chính của chị trước đây là bác sỹ? Vì thế, bài thơ này, theo tôi, tựa như 1 phương thuốc hay, quý, lại giản dị, dễ tìm, rất công hiệu, dùng để chữa cho những ai mắc bệnh tim nặng tình yêu ở độ tuổi gần đất xa trời, vẫn muốn sống thêm, yêu thêm bên người tình mùa đông, trên thế gian này, một, hai kỷ (12 năm) nữa!... 
Và tôi gọi nó là bản Tình ca U70.
Vậy, Ta dìu nhau đi hết cuộc đời này xúc động và hay cụ thể như thế nào?
Dưới đây là một vài cảm nhận và phân giải chủ quan của kẻ đọc vụng về này. 

1.     Về Nhan đề, thể thơ, kết cấu, giọng điệu, nhịp điệu

Nhan đề của bài được rút từ câu thơ dung dị, quan trọng nhất (câu đinh), xuất hiện ở vị trí cuối cùng, khái quát không chỉ 1 khía cạnh chủ đề tư tưởng bài thơ mà còn hé mở nguồn gốccảm hứng của Diệu Sinh. 
Thi cảm đã được khơi dậy, thăng hoa từ một sự việc tuồng như nhỏ nhoi, chẳng có gì đáng nói: Hằng ngày, mỗi buổi sáng (hoặc chiều) vợ cùng chồng rủ nhau xuống phố, ra bờ Hồ (Tây, Hoàn Kiếm, Thuyền Quang?, hoặc vào công viên Bách Thảo, Thủ Lệ, Thống Nhất?)... dạo chơi thư giãn, thanh thản, đầm ấm, một hình thức rèn luyện thể dục nhẹ nhàng vừa sức của không ít anh chị cao tuổi Hà Nội vài chục năm nay. 
Trong hình dung, tưởng tượng mơ màng của tôi: Đó là cảnh hai ông bà lão U70, U80 đi sát bên nhau; ông tựa nhẹ vào vai bà; bà nhìn ông âu yếm, động viên, khích lệ. Hai người khoan thai, chậm rãi bước, lặng lẽ nhìn hàng cây, hồ nước, những người dạo bộ chung quanh, đồng hành, ngược chiều, với vẻ mặt an nhiên, thư thái. Thi thoảng, bà lại nói với ông một câu gì đó, tiếng khẽ khàng, dịu dàng, chỉ đủ để ông nghe. Ông cũng nhè nhẹ gật gật đầu, miệng hơi mỉm cười... Đến một cái ghế đá đôi kê bên bờ hồ, bà khéo léo đỡ ông, cả hai ngồi xuống nghỉ. Ông có vẻ mệt mỏi. Bà khẽ khàng: - Dựa vào vai tôi, mình ạ! Ông nghe lời, tựa nhẹ lên bờ vai của bà. Bà lại đưa tay, nói: - Nắm chặt tay tôi, mình ạ! Ông nhìn bà, ánh nhìn đầy âu yếm, dịu dàng và thương yêu... Cả hai lãng đãng nhìn ra phía Tháp Rùa, phía Trúc Bạch, Quán Gió... Hồi ức trong tâm hồn thơ nơi bà chợt dạt dào dâng lên từng đợt, kết thành những câu thơ tự do: câu ngắn, câu dài nối nhau lăn tăn vỗ nhịp như từng đợt sóng hồ vỗ bờ dưới chân... Gần nửa giờ nhanh chóng trôi qua, bà quay sang ông, thầm thì: - Ông đã thấy thoải mái chưa? Ta đi tiếp nửa vòng nữa rồi trở về chứ? Khi ấy, trong tâm tưởng của bà, bỗng hiện hình câu thơ kết: Ta dìu nhau đi hết cuộc đời này! Ông lại cười, nụ cười sao mà hiền, mà lành, mà hóm, mà thương: - Khỏe rồi! Nào ta đi!...
Tôi nghĩ chính cảm xúc bất ngờ, tứ thơ bất chợt và tình cảm tự nhiên nhi nhiên, chânthành nhất mực ấy đã hòa với tâm thức, xui Hạt Cát lựa chọn thể thơ tự do, toàn bài hầu như không chủ ý gieo vần, nhưng lại rất ăn ý, tương hợp với nội dung và xúc động trong và sau cuộc thả bộ dạo chơi của hai vợ chồng, song hành với dòng suy tư, liên tưởng miên man, hồi ức, hoài niệm đắm đuối về mối tình của họ, kể từ buổi thanh xuân, môi hồng má đỏ cho tới hôm nay đang vào tuổi lá nhặt cuối chiều
Kết cấu bài thơ nương theo dòng cảm xúc chập chờn giữa hiện tại và quá khứ xa gần, đứt nối với một tương lai gần đang chờ đón họ. 
Dòng thơ - dòng tình cảm, nghĩ ngợi dường như cứ muốn kéo dài, trải rộng ra, không muốn dừng lại cho đến lời tự nhắc mình, lời nhắc nhau cuối cùng: Ta dìu nhau đi hết cuộc đời này!  trong tâm thế tự tin, bình thản, thảnh thơi và dung dị. Những điệp ngữ: mình ạ, mình ơiđược láy đi láy lại nhiều lần đầu và cuối các khổ thơ, một cách chủ ý có thể khiến người đọc lầm tưởng đó là lời đối thoại giữa bà với ông. Nhưng thực chất bài thơ trữ tình vẫn chỉ là lời độc thoại thầm thì, lời độc thoại nội tâm tự vang lên trong óc tim nhân vật – chủ thể trữ tình - người vợ yêu chồng đang gắng gỏi trào tuôn, giãi bàydiễn tiến tâm trạng của mình với chính mình... mà thôi!
Nét độc đáo tạo thành ấn tượng đầu tiên trong thức nhận của tôi về bài thơ này là:
Tứ thơ chân mộc, giản phác, sâu sắc một cách tự nhiên, trĩu nặng nghĩa tình biểu hiện trong một kết cấu tưởng chừng dễ dãi, tản mạn bên ngoài mà chặt chẽ, tập trung tự bên trong, từ chieuf sâu tâm trạng; là giọng thơ điềm đạm, thanh thản, nhip điệu từ tốn, tĩnh mạc tương thích với song lão uyên ương tốt phúc trời cho bên nhau như chim liền cánh, cây liền cành. Rất ít vần mà câu thơ không gợn một mảy trúc trắc; ngược lại, vẫn nghe trong từng đoạn, từng khổ, từng câu những âm giai nhạc thơ ngân nga, bổng trầm, nhặt khoan, vang vọng, một thứ nhạc của tình yêu bất chấp tuổi tác, thời gian, khi êm êm, trầm, chậm, khi réo rắt tự sâu thẳm hai tâm hồn cùng chung nhịp đập.

2.    Về những thi hình, thi ảnh và thi cảm cụ thể:

Khổ 1: (Dựa vào vai tôi... dung dẻ dung dăng...”).
4 câu đầu là 2 lời, 2 lần nhắc ông lão của tôi một cách hết sức tình cảm, tình tứ, đầy thương yêu, dịu dàng đến mức nâng niu, gượng nhẹ. Hai tiếng mình ạ hơi chùng xuống và vuốt dài âm cuối như còn vấn vương đến tận bây giờ, một thói quen nũng nịu, lễ phép với chồng, duyên dáng tự thuở mới phải lòng nhau, mới về làm dâu nhà ông ấy, của người vợ đảm tào khang, tấm mẳn...
Mở đầu và thống nhất cho tới cuối bài một lối xưng hô thường gặp của không ít cặp vợ chồng đã đề huề, xum xuê con cháu: Mình - tôi, Ta: thân mật, đầm ấm, đằm thắm mà cẩn mực, kính trọng nhau, tương kính như tân, như khách, rất phương Đông, rất Hà Nội, Việt Nam. Và mở đầu cho dòng liên tưởng, hồi cố xa xôi tới tận thời kỳ ấu thơ, khi cả đôi còn là hai đứa trẻ con dung dẻ dung dăng trong những trò chơi bất tận...
Khổ 2: (“Mình nhìn xem... cùng bay”)
Lạ một điều là theo lô gich tư duy và hướng phát triển của tứ thơ, tưởng chừng khổ 2 phải tái hiện ngay những kỷ niệm thời ấu niên của hai người. Nhưng không, thật bất ngờ và thú vị, tiếp theo lại là cảnh hiện tại hòa với cảnh và những ý nghĩ thoáng hiện về tương lai:
Hình ảnh  lúa trăng đậu trên mái tóc mình óng bạc là thi hình ẩn dụ sáng tạo, khá mới mẻ. Bởi nó kết nối khéo léo và đầy gợi tả, gợi cảm giữa dĩ vãng và hiện tại, cảnh vật thiên nhiên quen thuộc với con người thân yêu, qua cái nhìn tinh tế của người thơ. Động từ đậu biến những hình ảnh, sự vật nửa thực nửa ảo ấy trở thành hoàn toàn hư ảo, bồng bềnh trong hồi ức và tưởng tượng.
Hình ảnh:..lưng trời cánh hạc/Rủ chúng mình cưỡi gió cùng bay
đẫm chất Đường thi (Vương Bột: Lạc hà cô lộ tề phi, thu thủy trường thiên nhất sắc..., Thôi Hiệu (Hoàng hạc lâu), nhưng lại kéo được cái uyên ảo xa xưa nhập hòa cùng cái gần gụi, thương yêu bây giờ. Đó là chỗ khéo, tài và cái tình của người viết.
Lưng trời cánh hạc/ rủ chúng mình cưỡi gió cùng bay chính là lời vẫy gọi hạc giá tiên dutừ Đài hoá thân hoàn vũ sang thế giới không màu vĩnh viễn vừa hối hả vừa giục giã. Người nghe cũng thiết tha, nhẹ nhàng và sẵn sàng đón đợi.
Khổ 4: (“Mình ơi, sáng nay... trộm khát khao”)
 Từ vị thế tương lai sắp sửa giã từ cõi thế thoắt lại trở về hiện tại cụ thể (sáng nay, nắng hồng đọng trên môi mình thật đỏ) chen cùng hình dung quá khứ (cặp môi ngày nào mọng đỏ). Có lẽ đã lâu lắm, người vợ mới dám tự hé lộ niềm khát khao yêu đương thầm kín của mình từ thời thiếu nữ ngây thơ: (cả đời tôi trộm khát khao). Thì ra đến tuổi này mà vợ yêu chồng vẫn chỉ là chuyện buồng the kín đáo; chỉ dám trộm khát khao! Nỗi niềm canh cánh ấy, khát khao sẻ chia và hưởng thụ hạnh phúc cực kỳ chính đáng ấy, biểu hiện ra bên ngoài như thế, đáng phục hay là đáng thương, hở bạn thơ đáng quý?! Tôi cũng trộm nghĩ, rằng chẳng qua điều đó có lẽ xuất phát từ tính cách – tâm hồn của mỗi con người.
Tôi ngờ rằng khổ 5: (“Mình ơi, ngàn vì sao... suốt đời tôi”) 
là khổ thơ thuần mộng ảo, tưởng tượng lãng mạn, chắp cánh và thơ hóa, trẻ hóa, thanh xuân hóa đôi mắt, màu mắt và ánh mắt của người chồng, trong cái nhìn chứa chan tình yêu thủy chung vô bờ và sự ngưỡng mộ không cùng của vợ. Những thi ảnh - thi hình đăng đối được thi vị hóa bằng 2 so sánh lối phủ định - phiếm chỉ và liên tiếp tăng cấp 2 lần, theo mô hình:    không có X nào như Y, không có X nào như thế, như Y.
Qua đó, khẳng định một xác tín mạnh mẽ, quyết liệt, bất chấp quy luật sắt thời gian. Quy luật Tình yêu sẽ chiến thắng quy luật Sinh  - lão – bệnh – tử
Nhưng người đọc đều biết đó chỉ là khát vọng chủ quan nồng nàn, cực đoan đến mức bất chấp quy luật khách quan của những người đang yêu say đắm đuối; một cảm thức chủ quan ngây thơ, và rất đáng yêu!
Khổ (đoạn) 6: (“Nào mình ơi... đuổi hoa bắt bướm”) 
gồm 10 câu thơ xen kẽ những câu 8 tiếng, 5 tiếng khá đều đặn kể - tả, trở về với hiện thực đời thường, chồng khoác tay vợ trong một buổi chiều Tết (mồng 1, mồng 2, ... gì đó) cùng thả bộ, dạo quanh những con phố thân quen. 
Nhưng đến câu: tôi đưa mình về tuổi thơ bình yên cho tới hết đoạn thì cả hai lại tiếp tục đắm chìm về quá khứ thời đi học, thời đuổi hoa bắt bướm. Tuổi thần tiên giàu mộng mơ nên mới ngắm Cột Cờ vòi vọi trong mây. Chứ bây giờ có lẽ cả hai chỉ thấy ngọn Kỳ đài bên đường Điện Biên rêu phong trầm mặc! 
Tuy nhiên, ý đoạn thơ này, đặt trong mối tương quan toàn bài, theo tôi, bị trùng lặp với khổ 2; Nhưng xét từ góc độ tâm lý người già thường thích hướng về quá khứ, quanh đi quẩn lại chỉ thích kể mãi chuyện... ngày xưa, thì lại phù hợp với logich ấy. 
Khổ 8 : (“Qua rồi, mình ơi!... mình ạ!”)
Vang lên như những tiếng thở dài tổng kết và chia sẻ: bao vận hạn, gieo neo, trắc trở, tai ương, loạn lạc... tất cả đã qua rồi! May quá! Trời còn thương nhà mình! Nhịp thơ ngắt từng câu ngắn: 4, 3, 2 tiếng như muốn thể hiện  cảnh vợ chồng cùng nhau điểm lại từng khúc đoạn của đời sống gia đình, trải hơn nửa thế kỷ bươn chải mưu sinh, tồn tại.
Khổ 9: (“ Đủ cánh lông... Còn lại Mình và Tôi”):
nhắc đến những đứa con ruột thịt nay đều đã đủ lông đủ cánh, trường thành, tách khỏi tổ ấm gia đình - ngôi nhà chung của cha mẹ, ra ở riêng, lập nghiệp. Bởi vậy, chỉ Còn lại Mình và Tôi, viết hoa chữ M và T: phải chăng là một cách khẳng định, nhấn mạnh lần nữa 2 quy luật cơ bản của cuộc sống gia đình truyền thống và hiện đại: Mỗi gia đình (1 tế bào xã hội) Việt Nam hôm nay phổ biến chỉ bao gồm 2 thế hệ (bố mẹ và các con). Ông bà (cha mẹ) trở lại thời son rỗi: chỉ còn mình và tôi, phải / được hưởng một thời kỳ hạnh phúc hay cô đơn (bất hạnh) mới?!  Và quy luật vĩnh viễn: Con thương cha không bằng bà thương ông!
Đó không chỉ là hiện thực xã hội của các gia đình Việt Nam, châu Á mà là hiện thực xã hội và gia đình mang tính toàn cầu, trong hiện tại và tương lai.
Các cụ nhà ta đúc kết kinh nghiệm nhân sinh quả là sâu sắc, thâm thúy!
Khổ 10 – khổ kết (“Mình của Tôi... hết cõi đời này”)
Không có gì thật đặc sắc, mới mẻ về ý tứ mà chỉ đóng vai trò nhấn mạnh, như một điệp khúc vươn tới cao trào, làm coda kết bài trong một ca khúc. Được nhất, đọng nhất, tình cảm, ý chí, nghị lực nhất là câu thơ cuối cùng, vang lên như một lời hứa hẹn, một niềm tin sắt son của hai trái tim làm nên một mối tình, một tình yêu thủy chung son sắt, suốt đời.
                                                              ***
3.    Kết mở

Trong cảm luận của tôi: bài thơ của Diệu Sinh tất nhiên không phải là vế đối tạo nên từmột tình huống hài hóm để chọi lại viên sứ Tàu xưa
Đình tiền túy tửu phụ phù phu (Trước sân, say rượu, vợ dìu chồng)!
Ta dìu nhau đi hết cõi đời này ... của Hạt Cát khái quát hóa, hình tượng hóa, thơ hóa từ một hiện thực đời thường, trong cuộc sống sinh hoạt vợ chồng hôm nay. Bài thơ thể hiện tình cảm vợ chồng song lão hưu nhàn một cách  giản dị, thành thực và ung dung; xứng đáng là một trong những khúc tâm tình thủ thỉ của người phụ nữ đảm đang, vén khéo, vừa khéo chiều chồng vừa giỏi nuôi con, nhân hậu, tài hoa, đa tình Hà Nội. Bài thơ là bản hòa ca ấm áp, dìu dặt nghĩa tình vợ chồng vắt ngang 2 thế kỷ XX - XXI
Đọc Ta dìu nhau..., tôi lại nhớ và càng yêu thêm bài Thơ tình tặng vợ của cố thi nhân Hồ Dzếnh, đặc biệt nhớ 2 câu đầu nêu bật vai trò 4 trong 1Mình vừa là chị, là em/ Tấm lòng ngườimẹ, trái tim bạn đời... và 2  câu cuối hài hòa chung riêng:
Cuộc đời đâu phải phù sinh!
Nước non chan chứa nghĩa tình, mình ơi!
Nếu cho rằng Thơ tình tặng vợ là một bài thơ nịnh vợ khéo, đẹp và hay, thành thực vào bậc nhất nửa sau thế kỷ XX thì cũng có thể coi Ta dìu nhau đi hết cuộc đời này là bài thơ nịnh chồng đứng không dưới bậc thứ hai, tỏa sáng ở đầu thập niên thứ 2 thế kỷ XXI, hiểu theo nghĩa đùa vui, hóm hỉnh, tích cực, tốt đẹp nhất của động từ nịnh... Chứ sao?! 
Bài thơ của Bùi Cửu Trường nữ sỹ tuy chưa thật cô đọng, hàm súc và gợi dư ba bằng   4 cặp lục bát của cụ Hồ Dzếnh; nhưng cũng đủ tâm, tầm và sức để tỏa lan sự thấu thị, đồng cảm, thấu cảm sâu xa tới người đọc, nhất là đối với lớp cao tuổi như chúng tôi - những người đang mang trái tim già nua, yếu mỏi mà vẫn cố gắngvà quyết tâm nâng niu, ôm ấp mối tình già, đà đưa cùng bà lão  em yêu nhà tôi, dù cho con mắt đã đục mờ và chẳng còn có đuôi! (Tình già – Phan Khôi)./. 

Trèm – Thụy Phương, Bắc Từ Liêm, Hà Nội
Hạ tuần tháng  10 năm Đinh Dậu (2017). ĐV
Tác giả gửi bài
;